Tài liệu ôn thi Agribank 2019- Đề thi và đáp án giải chi tiết

Đề thi và đáp án giải chi tiết Tài liệu ôn thi Agribank 2019 – Đề thi và đáp án giải nằm trong phần tài liệu GIẢI ĐỀ THI AGRIBANK 2016 KHU VỰC 3 (13/11/2016) được cung cấp rộng rãi trên internet. Mình sẽ public lại gửi các bạn (nguồn UB).

Nội dung chính:

Câu 1 (20đ): Trong giao dịch bảo đảm, giao dịch nào cần phải bắt buộc đăng ký? Các đối tượng không bắt buộc phải đăng ký thì thực hiện như thế nào? Ý nghĩa của Đăng ký giao dịch đảm bảo?

Trả lời:

1/ Khái niệm Giao dịch bảo đảm (Điều 318, 323 Bộ luật Dân sự số 33/2005)

-Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm:
a)Cầm cố tài sản;
b)Thế chấp tài sản;
c)Đặt cọc;
d)Ký cược; đ) Ký quỹ;
e)Bảo lãnh;
g) Tín chấp.

2/ Khái niệm Đăng ký giao dịch đảm bảo (Điều 2 NĐ83, Điều 3 NĐ163)

Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.
Theo đó:

-Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm là sổ chuyên dùng để đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc sổ có một phần dành để đăng ký giao dịch bảo đảm.
-Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm là tập hợp các thông tin về giao dịch bảo đảm đã đăng ký được lưu giữ tại cơ quan đăng ký.
-Bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp.
-Bên nhận bảo đảm là bên có quyền trong quan hệ dân sự mà việc thực hiện quyền đó được bảo đảm bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm, bao gồm bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận bảo lãnh, tổ chức tín dụng trong trường hợp tín chấp và bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại trong trường hợp ký quỹ.

3/ Ý nghĩa của việc Đăng ký giao dịch bảo đảm a/ Mục tiêu chính:

-Thiết lập cơ chế minh bạch hóa tình trạng pháp lý của tài sản, góp phần bảo vệ quyền dân sự chính đáng của mọi người dân và tổ chức, đây là một dịch vụ hành chính công do Nhà nước cung cấp cho khách hàng là tổ chức, cá nhân để giúp họ tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình trước các rủi ro pháp lý trong quá trình thiết lập các giao dịch bảo đảm.
-Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc nhà nước (hoặc các chủ thế khác do Nhà nước ủy quyền) công nhận một tình trạng đã được bảo đảm cho một nghĩa vụ hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự nhất định. Giá trị pháp lý thực sự của hành vi đăng ký giao dịch bảo đảm chính là ở chỗ nó thừa nhận một tài sản đã được chủ sở hữu đem bảo đảm cho việc thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ dân sự của chính họ hoặc người khác đối với bên có quyền.
-Đăng ký giao dịch bảo đảm làm phát sinh quyền được ưu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm trong giao dịch bảo đảm đã đăng ký, so với bên nhận bảo đảm khác trong các giao dịch

bảo đảm chưa được đăng ký. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc coi hành vi đăng ký giao dịch bảo đảm là sự kiện pháp lý để “đánh dấu” thứ tự hình thành các giao dịch bảo đảm đã được xác lập đối với một tài sản và từ đó xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm đối với các chủ nợ có bảo đảm bằng một tài sản.
b/ Mục tiêu cơ bản

-Công khai hóa các giao dịch bảo đảm mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu, qua đó giúp họ có các thông tin chính xác, tin cậy trước khi quyết định xác lập các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư vốn trong và ngoài nước để phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là với môi trường lớn mang yếu tố nước ngoài như WTO, APEC, EU…mà nhà nước ta đang tham gia hiện nay.
-Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm trong trường hợp dung một tài sản để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong khi giao dịch.
-Việc đăng ký giao dịch bảo đảm còn góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường tín dụng, không những phát triển nhanh, mà còn phát triển trong thế ổn định, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xét xử của Tòa án đối với các tranh chấp về giao dịch bảo đảm.
-Đối với các trường hợp bắt buộc phải đăng ký, nhưng không đăng ký thì giao dịch bảo đảm có thể bị vô hiệu và không có giá trị với người thứ ba.

4/ Các đối tượng bắt buộc phải đăng ký

a)Các giao dịch bảo đảm sau đây phải đăng ký: (Điều 3, NĐ 83)

•Thế chấp quyền sử dụng đất;

•Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng;

•Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;

•Thế chấp tàu biển;

•Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định.

Các giao dịch bảo đảm bằng tài sản không thuộc các trường hợp quy định trên được đăng ký khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu.
b)Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm. (Điều 47, NĐ83)
-Cục Hàng không Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay.
-Chi cục hàng hải hoặc Cảng vụ hàng hải thuộc Cục Hàng hải Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về thế chấp tàu biển.
-Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
-Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản, trừ tàu bay, tàu biển và các tài sản khác không thuộc thẩm quyền đăng ký của các cơ quan tại 3 khoản mục phía trên.

5/ Các đối tượng không bắt buộc phải đăng ký thì phải thực hiện thế nào?

Trong trường hợp các nghĩa vụ không bắt buộc phải đăng ký, có 2 lựa chọn:

1/ Ngân hàng hay Tổ chức tín dụng tự thực hiện nhận tài sản bảo đảm căn cứ theo các chứng từ bản gốc liên quan đến Tài sản đó, không cần khai báo với cơ quan chức năng.
2/ Trường hợp Ngân hàng/Tổ chức tín dụng vẫn thực hiện khai báo với cơ quan chức năng với các giao dịch không bắt buộc đăng ký:
-Cơ quan quản lý: Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản, trừ tàu bay, tàu biển và các tài sản khác không thuộc thẩm quyền đăng ký của các cơ quan như Cục Hàng Không, Cục Hàng Hải, Sở tài nguyên/Phòng tài nguyên môi trường.
-Quy trình đăng ký thực hiện tương tự giống các tài sản khác, bao gồm:

Hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được nộp theo một trong các phương thức sau đây:

+ Nộp trực tiếp tại trụ sở của cơ quan đăng ký;

+ Gửi qua đường bưu điện;

+ Gửi qua fax hoặc gửi qua thư điện tử đối với đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản với điều kiện người yêu cầu đăng ký đã đăng ký khách hàng thường xuyên tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp;
+ Gửi qua hệ thống đăng ký trực tuyến.

Sau khoảng thời gian quy định, Cơ quan quản lý gửi trả kết quả đăng ký theo yêu cầu của bên bảo đảm.

Câu 2 (20đ): Anh chị hiểu như thế nào về Lãi suất trong hoạt động của NHTM? Lãi suất danh nghĩa? Lãi suất thực? Phân loại các loại lãi suất theo nghiệp vụ của NH?

Trả lời:

1/ Hiểu biết về Lãi suất trong hoạt động của Ngân hàng Thương mại a/ Khái niệm lãi suất

-Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó.
-Lãi suất phải được trả bởi lẽ người đi vay đã sử dụng vốn của người cho vay phục vụ nhu cầu sinh lợi trong sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu tiêu dùng của mình. Việc người cho vay chuyển quyền sử dụng vốn cho người khác có nghĩa là đã hy sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình. Đánh đổi cho sự chuyển quyền đó là quyền người cho vay được trả tiền lãi. Theo đó, lãi suất chính là Chi phí cơ hội của việc sử dụng tiền.
-Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta và có những hệ quả quan trọng đối với sức khoẻ của nền kinh tế. Lãi suất tác động đến những quyết định cá nhân như chi tiêu hay để dành, mua nhà, mua ô tô hay mua trái phiếu hay gửi tiền vào một tài khoản tiết kiệm. Lãi suất

cũng tác động đến những quyết định kinh tế của các doanh nghiệp hoặc của các gia đình như dùng vốn để đầu tư mua thiết bị mới cho các nhà máy hoặc để tích lũy đầu tư trong một Ngân hàng .
Về cơ bản, Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan chặt chẽ đến một số phạm trù kinh tế khác. Nó đóng vai trò như một đòn bẩy kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Tín dụng Ngân hàng phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể sử dụng vốn (người vay vốn) với chủ thể sở hữu vốn (người thừa vốn) theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn kèm theo lãi.
b) Vai trò của lãi suất trong hoạt động NHTM

NHTM với hai nghiệp vụ chính trong hoạt động kinh doanh của mình là huy động vốn và sử dụng vốn đã phản ánh quy mô hoạt động của các NHTM.
Với phương châm “đi vay để cho vay”, NHTM huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong các doanh nghiệp và dân cư để cho vay phát triển kinh tế và các nhu cầu tiêu dùng khác của nhân dân. Để huy động vốn và cho vay có hiệu quả, NHTM phải xác định lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay một cách hợp lý. Nếu lãi suất huy động tiền gửi quá thấp thì không khuyến khích các doanh nghiệp và dân cư gửi tiền vào, dẫn đến NHTM không đủ vốn cho vay để đáp ứng yêu cầu khách hàng.
=> Lãi suất Ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM và khách hàng. Nếu lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại. Bởi vậy lãi suất Ngân hàng vừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước vừa là công cụ điều hành vi mô của các NHTM.
Do vậy, khi huy động tiền gửi mà với lãi suất thấp thì không khuyến khích doanh nghiệp và dân cư gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, sẽ dẫn đến hậu quả là NHTM không đủ vốn để cho vay đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng. Ngược lại, nếu lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không có lãi hoặc lãi quá thấp sẽ thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động để gửi vốn vào ngân hàng.

2/ Phân loại Lãi suất? Khái niệm Lãi suất Danh nghĩa, Lãi suất thực? (Tài liệu ngày 2 phần Lãi suất đã có)

a)Căn cứ vào thời hạn tín dụng:

Lãi suất được chia thành 3 loại gồm:

-Lãi suất ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn
-Lãi suất trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụg trung hạn
-Lãi suất tín dụng dài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn

b)Căn cứ vào tính chất của khoản vay, có các loại lãi suất phổ biến sau:

-Lãi suất tiền gửi ngân hàng là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng. Lãi suất tiền gửi ngân hàng có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào loại tiền gửi (không kỳ hạn, tiết kiệm…), thời hạn gửi và quy mô tiền gửi.
-Lãi suất cho vay ngân hàng là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng khi đi vay từ ngân hàng. Lãi suất tín dụng ngân hàng có nhiều mức tùy theo loại hình vay (vay kinh doanh, vay trả góp, vay qua thẻ tín dụng¼), theo mức độ quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng và tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa hai bên.
-Lãi suất chiết khấu ngân hàng là loại lãi suất áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu công cụ chuyển nhượng hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng. Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của công cụ chuyển nhượng hoặc giấy tờ có giá khác, và được khấu trừ ngay khi ngân hàng đưa tiền vay cho khách hàng. Như vậy, lãi suất chiết khấu được trả trước cho ngân hàng chứ không trả sau như lãi suất tín dụng thông thường.
-Lãi suất tái chiết khấu của ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng thương mại khi cho vay dưới hình thức tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này.
Hoạt động tái chiết khấu cung ứng nguồn vốn cho các ngân hàng thương mại nên lãi suất tái chiết khấu thường thấp hơn lãi suất chiết khấu. Tuy nhiên, trong trường hợp ngân hàng
 trung ương muốn hạn chế khả năng mở rộng của tín dụng để đối phó với lạm phát thì lãi suất tái chiết khấu có thể lớn hơn lãi suất chiết khấu của các ngân hàng thương mại.
-Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng cho nhau khi vay trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất mà ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trung gian vay. Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung gian.
-Lãi suất cơ bản là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình.
Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tùy từng nước. Ở Việt Nam theo luật pháp, Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố lãi suất cơ bản. Các ngân hàng thương mại ấn định mức lãi suất đi vay và cho vay dựa trên mức lãi suất cơ bản đó và phù hợp với điều kinh doanh của mình.

c)Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất

-Lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate) là lãi suất được  tính  theo  giá  trị  danh nghĩa, không kể đến tác động của lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được công bố chính thức trên hợp đồng tín dụng.
-Lãi suất thực tế (real interest rate) là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát.
Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế có mối liên hệ được thể hiện trong phương trình sau:

Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát

Vì vậy, lãi suất thực tế còn được định nghĩa là lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát. Người ta có thể tính trước lãi suất thực tế dựa trên lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát dự tính. Hoặc có thể điều chỉnh lãi suất thực tế (tính sau) theo lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát thực tế.
Lãi suất thực tế cần phải được tính đến để loại trừ hết ảnh hưởng trong mức giá và do đó phản ánh chính xác hơn chi phí thật của việc vay tiền. Lãi suất thực tế là lãi suất quan trọng nhất cho các quyết định kinh tế, nó là cái mà các nhà kinh tế dùng để tính toán lượng thu nhập hoặc các ích lợi thực tế của một quyết định kinh tế.

Ví dụ tham khảo: Giả sử một khách hàng đến ngân hàng vay một khoản tiền để đầu tư kinh doanh với lãi suất 7.5% một năm. Theo dự tính ban đầu, khách hàng này cho rằng mức giá sẽ không đổi trong thời gian một năm tới. Vì là người đi vay nên cuối năm anh ta sẽ phải trả 7,5% lãi suất, tức là anh ta mất đi cơ hội mua một món hàng có giá trị bằng 7.5% món vay. Lúc này, lãi suất thực tế mà anh ta phải trả theo qui đổi của lượng hàng hóa và dịch vụ là 7.5%, tức là: Ir = 7.5% – 0% = 7.5%.
Giả sử tỷ lệ lạm phát tăng lên 5% và lãi suất ngân hàng cho vay tăng lên mức 10% một năm thì lãi suất thực tế mà khách hàng phải trả theo qui đổi của lượng hàng hóa và dịch vụ là: Ir = 10% – 5% = 5%.
Nếu khách hàng này là người nắm bắt được lãi suất thực tế thì anh ta sẽ quyết định vẫn tiếp tục vay tiền để đầu tư vào dự án của mình mặc dù lúc này lãi suất tăng lên 10% so với 7.5% như ban đầu. Bởi vì chi phí thực mà anh ta phải trả cho ngân hàng là thấp hơn so với dự tính ban đầu.
Như vậy, có thể nói rằng lãi suất thực tế là chỉ dẫn tốt hơn cho người dân khi quyết định gửi tiền hay vay tiền từ ngân hàng, để đầu tư vào chứng khoán công ty hay mua trái phiếu chính phủ. Nếu chỉ nhìn vào lãi suất danh nghĩa có thể có những đánh giá sai về thị trường tín dụng. Bởi vì lãi suất danh nghĩa cao không có nghĩa là thị trường tín dụng đang rất căng thẳng do chi phí đi vay quá cao. Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì chi phí đi vay thực ra rất thấp.

d)Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất

-Lãi suất cố định là loại lãi suất được quy định cố định trong suốt thời hạn vay. Nó có ưu điểm là số tiền lãi được cố định và biết trước. Nhưng nhược điểm là bị ràng buộc vào một mức lãi nhất định trong một khoảng thời gian, mặc dù lãi suất thị trường đã thay đổi.
-Lãi suất thả nổi là lãi suất được quy định là có thể lên xuống theo lãi suất thị trường trong thời hạn tín dụng. Lãi suất thả nổi vừa chứa đựng rủi ro lẫn lợi nhuận. Khi lãi suất tăng lên, người đi vay bị thiệt so với trường hợp xác định lãi suất cố định, người cho vay được lợi. Khi lãi suất giảm xuống, người cho vay bị thiệt, người đi vay được lợi.
e)Căn cứ vào loại tiền cho vay
-Lãi suất nội tệ là lãi suất cho vay và đi vay đồng nội tệ
-Lãi suất ngoại tệ là lãi suất cho vay và đi vay đồng ngoại tệ

f/ Căn cứ vào nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế

-Lãi suất trong nước hay lãi suất quốc gia là lãi suất áp dụng trong các hợp đồng tín dụng trong nước.
-Lãi suất quốc tế là lãi suất áp dụng với các hợp đồng tín dụng quốc tế. Lãi suất quốc tế thường thấy LIBOR (London Interbank Offered Rate) là lãi suất quốc tế lấy trên thị trường liên ngân hàng London. Ngoài ra còn có các lãi suất quốc tế khác như NIBOR (trên thị trường NewYork), TIBOR (trên thị trường Tokyo), SIBOR (trên thị trường Singapore).
Nếu các hợp đồng tín dụng quốc tế áp dụng mức lãi suất quốc gia thì lãi suất quốc gia trở thành lãi suất quốc tế.
Lãi suất quốc gia thường chịu ảnh hưởng của lãi suất quốc tế. Nếu thị trường vốn quốc gia tự do thì lãi suất quốc gia sẽ lên xuống theo lãi suất quốc tế.

Câu 3 (20đ): Tại sao lại phân tích và kiểm soát rủi ro dự án mặc dù đã thẩm định kỹ trước khi cho vay? Kỹ thuật phân tích nào có thể kiểm soát được rủi ro? Nêu những kĩ thuật phân tích rủi ro và nhược điểm?

Trả lời:

1/ Rủi ro Tín dụng (Rủi ro cho vay)

a)Khái niệm rủi ro tín dụng (Trong Slide học đã có)

Là rủi ro do một khách hàng hay một nhóm khách hàng vay vốn không trả được nợ cho Ngân hàng. Trong kinh doanh Ngân hàng rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề có khi dẫn đến phá sản Ngân hàng.
Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh luôn tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cũng phải luôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điêu đó có nghĩa là rủi ro tín dụng cũng phát sinh nhiều hơn.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào… Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác.
b)Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng (Trong Slide học đã có)

Nguyên nhân từ phía Ngân hàng:

Thực tế kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian qua cho thấy rủi ro tín dụng xảy ra là do những nguyên nhân sau:
-Ngay hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và thể lệ cho vay còn sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của Ngân hàng.
-Do cán bộ Ngân hàng chưa chấp hành đúng quy trình cho vay như: không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn. Đồng thời cán bộ Ngân hàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng.
-Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn nên việc đánh giá các dự án, hồ sơ xin vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng dự án thiếu tính khả thi mà vẫn cho vay.

-Cán bộ Ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinh doanh như: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, xâm tiêu khi giải ngân hay thu nợ, đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng.
-Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợi nhuân cao hơn những khoản vay lành mạnh.
-Do áp lực cạnh tranh với các Ngân hàng khác.
-Do tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra trong nội bộ Ngân hàng

Nguyên nhân từ phía khách hàng:

-Người vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích, sử dụng vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho Ngân hàng.
-Do trình độ kinh doanh yếu kếm, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo còn hạn chế.
-Doanh nghiệp vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản lưu động và cố định.

-Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, không cải tiến quy trình công nghệ, không trang bị máy móc hiện đại, không thay đổi mẫu mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm…dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanh nghiệp không có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho Ngân hàng.
-Do bản thân doanh nghiệp có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn của Ngân hàng, dùng một loại tài sản thế chấp đi vay nhiều nơi, không đủ năng lực pháp nhân.

Nguyên nhân khác:

-Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do nền kinh tế không ổn định…. khiến cho cả Ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp.
-Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng.
-Do sự biến động về chính trị – xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho Ngân hàng.
-Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ Ngân hàng.
-Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như Ngân hàng.
-Sự bất bình đẳng trong đối sử của Nhà nước dành cho các NHTM khác nhau.

-Chính sách Nhà nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình phát triển đất nước.

2/ Tại sao lại phân tích và kiểm soát rủi ro dự án mặc dù đã thẩm định kỹ trước khi cho vay?

Có thể thấy rằng, Rủi ro tín dụng đến từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Với vai trò của 1 Cán bộ Tín dụng, chúng ta không chỉ phân tích đánh giá Trước khoản vay trước khi đưa ra quyết định cho vay. Theo đó, một trong những vai trò đặc biệt quan trọng trong công việc của Cán bộ Tín dụng, đó chính là Phân tích & Kiểm soát rủi ro sau cho vay – hay còn gọi là Kiểm soát sau/Giám sát Tín dụng.
Giám sát tín dụng là một khâu trong quy trình tín dụng căn bản của Ngân hàng thương mại. Mục tiêu của Giám sát tín dụng là bảo đảm cho tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã cam kết, kiểm soát rủi ro tín dụng, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai phạm có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ sau này.
-Nội dung kiểm tra sau/Giám sát tín dụng:

+ Kiểm tra việc sử dụng vốn vay theo mục đích đã ghi trong hợp đồng tín dụng;

+ Kiểm tra biện pháp tổ chức triển khai và tiến độ thực hiện dự án, phương án; đánh giá hiệu quả của dự án, phương án vay vốn;
+ Kiểm tra hiện trạng, tình hình biến động, thay đổi tài sản bảo đảm tiền vay (số lượng, giá trị…).

+ Kiểm tra nguồn thu nhập của khách hàng vay (từ dự án, tiền lương, thu nhập khác); phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp; đánh giá tiến độ và khả năng trả nợ.
+ Kiểm tra, xác định mức độ thiệt hại của dự án, phương án đầu tư, của khách hàng vay khi xảy ra rủi ro bất khả kháng (bão, lũ lụt, cháy nổ, dịch bệnh…).

3/ Kỹ thuật phân tích nào có thể kiểm soát được rủi ro? Nêu những kĩ thuật phân tích rủi ro và nhược điểm? (Tài liệu tham khảo ngày 3 phần Tài sản bảo đảm => Giám sát tín dụng)
Một số biện pháp giám sát mà ngân hàng thường áp dụng:

a)Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng:

Qua hoạt động của tài khoản tiền gửi và tài khoản tiền vay sẽ phản ánh tình hình tiêu thụ sản phẩm, lưu chuyển tiền tệ, sử dụng vốn vay và trả nợ. Việc biến động bất thường của tài khoản sẽ phản ánh những khó khăn trong quản trị tài chính. Khi tài khoản vãng lai luôn có dư nợ là dấu hiệu khách hàng có khó khăn trong chi trả; qua đó ngân hàng sẽ tuỳ theo các dấu hiệu mà có hướng kiểm soát trọng tâm.
b)Phân tích báo cáo tài chính theo định kỳ:

Đối với khách hàng vay thường xuyên( thấu chi, thẻ tín dụng…)hoặc thời gian vay tương đối dài (từ vài tháng trở lên) ngân hàng sẽ yêu cầu gửi báo cáo tài chính định kỳ để ngân hàng kịp thời phân tích, phát hiện những thay đổi đáng chú ý trong khả năng trả nợ của khách hàng. Tùy vào mức độ mà nhân viên giám sát có thể trực tiếp hoặc thông qua các cấp quản trị đề ra các biện pháp ngăn ngừa khác nhau.
c)Viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoạt động kinh doanh/nơi cư trú của khách hàng đi vay
Khi viếng thăm khách hàng trong thời gian vay sẽ giúp cho ngân hàng có được những thông tin bổ ích như sự duy trì ý muốn trả nợ của khách hàng, thực trạng tổ chức sản xuất kinh doanh, thực trạng dự trữ hàng tồn kho, chất lượng tài sản đảm bảo.

d)Kiểm tra các bảo đảm tiền vay

Việc kiểm tra được thực hiện bằng cách kiểm tra tại chỗ hiện trạng của tài sản và thông qua các báo cáo thường kỳ của khách hàng về tình trạng của tài sản.
Trong trường hợp tài sản bị rủi ro như cháy, sạt lở, giá thị trường biến động thì ngân hàng phải kịp thời điều chỉnh Hợp đồng cho phù hợp với điều kiện mới.
e)Giám sát hoạt động khách hàng thông qua các mối quan hệ với các khách hàng khác Với những khách hàng khác đây là giám sát thông qua tài khoản hoặc cho vay, qua đó thể hiện tình hình hoạt động của khách hàng đi vay như tiến độ mua, bán hàng hóa, khả năng thanh toán, mức độ kỷ luật hợp đồng, tính trung thực trong các báo cáo tài chính, phương án kinh doanh.
g)Giám sát qua những thông tin khác

Như ngân hàng phân tích những thông tin từ Trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan thuế, toà án…Những kênh thông tin khác nhau như thế này về khách hàng thực sự rất quan trọng đối với việc ra quyết định của các Ngân hàng thương mại.
Việc thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các biện pháp giám sát tín dụng sẽ giúp cho Ngân hàng kiểm soát và hạn chế tình hình nợ xấu, các nguồn vốn tín dụng được sử dụng đúng mục đích yêu cầu đề ra, góp phần thúc đẩy nền kinh tế lưu thông, phát triển lành mạnh.

NOTE: Về nguyên tắc chung, không có 1 giải pháp nào có thể đánh giá tổng quan nhất và rõ ràng nhất về Rủi ro mà Khách hàng gặp phải. Mọi giải pháp đều có ưu & nhược điểm, đều chưa đủ. Để kiểm soát rủi ro của Khách hàng, cần phải thực hiện song song và liên tục nhiều nhóm giải pháp cùng nhau. Theo đó, cần vừa phải đánh giá thực tế hoạt động kinh doanh, thực hiện dự án của Khách hàng, vừa phải phân tích số liệu kinh doanh trong các loại Báo cáo tài chính, hoặc thông qua các thông tin từ kênh từ 3.. Mọi giải pháp cần có sự phối hợp đồng nhất trong việc quản trị rủi ro.

Câu 4 (10đ): Tổ chức tín dụng và ngân hàng nước ngoài sử dụng Dự phòng Rủi ro để Xử lý rủi ro trong những trường hợp nào?

Trả lời:

1/ Khái quát chung (Điều 1, Thông tư 02)

Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về việc phân loại, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng đối với các tài sản có (sau đây gọi tắt là nợ) sau:
a)Cho vay;

b)Cho thuê tài chính;

c)Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;

d)Bao thanh toán;

đ) Các khoản cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng;

e)Các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng;

g)Số tiền mua và ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết (Upcom) (sau đây gọi tắt là trái phiếu chưa niêm yết), không bao gồm mua trái phiếu chưa niêm yết bằng nguồn vốn ủy thác mà bên ủy thác chịu rủi ro;
h)Ủy thác cấp tín dụng;

i)Tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán) tại tổ chức tín dụng trong nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và tiền gửi tại tổ chức tín dụng nước ngoài.

2/ Khái niệm Rủi ro Tín dụng & Dự phòng Rủi ro (Điều 3, Thông tư 02)

-Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
-Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.
+ Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể.
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: (Điều 12, Thông tư 02)

a)Nhóm 1: 0%;

b)Nhóm 2: 5%;

c)Nhóm 3: 20%;

d)Nhóm 4: 50%;

đ) Nhóm 5: 100%.

+ Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể.
Số tiền dự phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.

3/ Tổ chức tín dụng và ngân hàng nước ngoài sử dụng Dự phòng Rủi ro để Xử lý rủi ro trong những trường hợp nào? (Điều 16, Thông tư 02)

1/ Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro trong các trường hợp sau:
a)Khách hàng là tổ chức bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật, cá nhân bị chết, mất tích;
b)Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5.

2.Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo nguyên tắc sau:
a)Sử dụng dự phòng cụ thể trích lập theo quy định để xử lý rủi ro đối với khoản nợ đó;

b)Phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ: Trường hợp dự phòng cụ thể không đủ để xử lý khoản nợ, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải khẩn trương tiến hành việc phát mại tài sản bảo đảm theo thỏa thuận với khách hàng và theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ;
c)Trường hợp sử dụng dự phòng cụ thể và số tiền thu được từ phát mại tài sản không đủ bù đắp rủi ro của khoản nợ thì phải sử dụng dự phòng chung để xử lý;
d)Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hạch toán ngoại bảng phần dư nợ đã được xử lý rủi ro.
3.Hồ sơ xử lý rủi ro gồm:

a)Hồ sơ cấp tín dụng và hồ sơ thu nợ đối với các khoản nợ được xử lý rủi ro;

b)Hồ sơ tài sản bảo đảm và các giấy tờ khác có liên quan;

c)Quyết định hoặc phê duyệt của Hội đồng xử lý rủi ro về kết quả phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro;
d)Quyết định hoặc phê duyệt của Hội đồng xử lý rủi ro về việc xử lý rủi ro;

đ) Đối với trường hợp khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bị phá sản, giải thể, ngoài hồ sơ phía trên phải có bản sao được chứng thực quyết định tuyên bố phá sản của tòa án hoặc quyết định giải thể doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;
e)Đối với trường hợp khách hàng là cá nhân bị chết, mất tích, ngoài hồ sơ quy định tại các điểm trên phải có bản sao được chứng thực giấy chứng tử, giấy xác nhận hoặc quyết định tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật.

Câu5(10đ):Bài tập sảnlượng bài tậpliênquanđến các tỷsốtài chính   Cho Bảng CĐKT:

 

a)Năm N+1, Doanh thu đạt như dự kiến thì vốn cần tài trợ bổ sung là bao nhiêu?

b)Nếu Năm N+ 1 Doanh thu vượt mức là bao nhiêu mà không cần vốn tài trợ bổ sung

Câu 6 (20đ): Bài tập tính NPV để lựa chọn phương án đầu tư.

Có 2 phương án:

a/ Phương án 1: Mua vật liệu Y giá 6 USD/cái. Một năm mua 400.000 cái. b/ Phương án 2: Nếu Sản xuất Y
-Đầu tư ban đầu Máy móc thiết bị 250.000 USD

-Khấu hao đều trong 5 năm, sử dụng trong 7 năm

-Chi phí sản xuất 4 USD/cái Thuế TNDN: 20%
Vốn lưu động mỗi năm: 60.000 Tỷ lệ chiết khấu 10%
Chọn phương án nào?

Bài làm:

a/ Phương án 1:

-Chi phí mua Nguyên vật liệu Y trong 1 năm = 6 x 400.000 = 2.400.000 (USD) = 2.4 triệu USD
-Chi phí thuế tiết kiệm được 1 năm = 2.400.000 x 20% = 480.000 USD = 0.48 triệu USD

 

=> Chi phí phương án 1 quy về năm 0 = PV1 = (2.4 – 0.48) x ((1 +  0.1)^7 – 1)/ (0.1 𝑥(1 + 0.1)^7) = 9.34 triệu USD
b/ Phương án 2:
+ Khấu hao = 250.000 ⁄ 5 = 50.000 USD = 0.05 triệu USD
+ Chi phí sản xuất/năm =  4 x 400.000 = 1.600.000 USD = 1.6 triệu USD

+ Vốn lưu động = 60.000 USD = 0.06 triệu USD

=> Chi phí Thuế tiết kiệm được từ năm 1 -> năm 5 = (0.05 + 1.6 + 0.06) x 20% = 0.342 triệu USD
=> Chi phí Thuế tiết kiệm được từ năm 6 -> năm 7 = (1.6 + 0.06) x 20% = 0.332 triệu USD

=> Chi phí Phương án 2 quy về năm 0 = PV2 = 0.25 + (1.6+0.06-0.342) x  ((1 + 0.1)^5 – 1)/(0.1 𝑥(1 + 0.1)^5) + (1.6 – 0.332) x  ((1 +  0.1)^2 – 1)/(0.1 𝑥(1 +
0.1)^2) x 1/(1+0.1)^5 = 6.61 triệu USD

NHẬN XÉT: PV 2 < PV 1 => Lựa chọn phương án 2 vì có chi phí nhỏ hơn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.