Bảng tóm tắt định mức luật ngân sách nhà nước 2015-ôn thi kho bạc nhà nước (kèm câu hỏi có đáp án)

Bảng tóm tắt định mức luật ngân sách nhà nước 2015– ôn thi kho bạc nhà nước 2017 update làm tài liệu ôn thi kho bạc nhà nước 2019. Tài liệu mới tóm tắt các kiến thức cần thiết ôn thi kho bạc nhà nước.

Bảng tóm tắt định mức luật ngân  sách 2015

Các điểm mới của Luật Ngân sách nhà nước 2015

Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2015 (thay thế Luật Ngân sách nhà nước năm 2002) đã được Quốc hội thông khóa XII thông qua và chính thức có hiệu lực thi thành từ năm ngân sách 2017.

Phản ánh rõ các khoản thu – chi ngân sách

Luật NSNN quy định thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và DNNN thực hiện nộp NSNN theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương…

Các khoản chi NSNN bao gồm chi đầu tư phát triển; chi dự trữ quốc gia; chi thường xuyên; chi trả nợ lãi; chi viện trợ…

Luật cũng quy định rõ bộ chi NSNN bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh. Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng chi ngân sách trung ương. Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương.

NSNN được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; có phân công, phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.

Quản lý chặt quỹ Quỹ dự trữ tài chính

Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ lập quỹ dự trữ tài chính từ các nguồn tăng thu, kết dư ngân sách, bố trí dự toán chi ngân sách hàng năm và các nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật.

Số dư của quỹ dự trữ tài chính ở mỗi cấp không vượt quá 25% dự toán chi ngân sách hàng năm của cấp đó.

Quỹ dự trữ tài chính được sử dụng trong các trường hợp: Cho ngân sách tạm ứng để đáp ứng các nhu cầu chi theo dự toán chi ngân sách khi nguồn thu chưa tập trung kịp và phải hoàn trả ngay trong năm ngân sách; Trường hợp thu NSNN hoặc vay để bù đắp bội chi không đạt mức dự toán được Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định và thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh trên diện rộng, với mức độ nghiêm trọng, nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán mà sau khi sắp xết lại ngân sách, sử dụng hết dự phòng ngân sách mà vẫn chưa đủ nguồn, được sử dụng quỹ dự trữ tài chính để đáp ứng các nhu cầu chi nhưng mức sử dụng trong năm tối đa không quá 70% số dư đầu năm của quỹ.

Ngân sách được thực hiện công khai

Nội dung công khai gồm số liệu và báo cáo thuyết minh dự toán NSNN trình Quốc hội, Hội đồng nhân dự, dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định, tình hình thực hiện NSNN và quyết toán NSNN; kết quả thực hiện các kiên nghị của kiếm toán nhà nước; trừ số liệu chi tiết, báo cáo thuyết minh thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, dự trữ quốc gia.

Việc công khai NSNN được thực hiện bằng một hoặc một số hình thức: công bố tại kỳ họp, niêm yết tại trục sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị; phát hành ấn phẩm; thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; đưa lên trang thông tin điện tử; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Báo cáo dự toán NSNN phải được công khai chậm nhất là 5 ngày làm việc kể từ ngày Chính phủ gửi đại biểu Quốc hội, UBND gửi lại đại biểu Hội đồng nhân dân.

Báo cáo dự toán NSNN đã được cấp có thẩm quyền quyết định, báo cáo quyết toán NSNN đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn, kết quả kiểm toán NSNN, kết quả thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước phải được công khai chậm nhất 30 ngày kể tư ngày văn bản được ban hành.

Báo cáo tình hình thực hiện NSNN hàng quý, 6 tháng phải được công khai chậm nhất 15 ngày kể từ ngày kết thúc quý và 6 tháng.

Báo cáo tình hình thực hiện NSNN hàng năm được công khai khi Chính phủ trình Quốc hội vào kỳ họp giữa năm sau.

Cộng đồng giám sát ngân sách

NSNN được giám sát bởi cộng đồng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp sẽ chủ trì tổ chức việc giám sát NSNN của cộng đồng.Nội dung giám sách NSNN gồm: Việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng NSNN; Tình hình thực hiện dự toán NSNN hàng năm; Việc thực hiện công khai NSNN theo quy định tại điều 15 của Luật này.

 

Theo dddn.com.vn

 

 

Những điểm mới trong luật ngân sách nhà nước năm 2015

ThS. NGUYỄN MINH TÂN – Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính – Ngân sách Văn phòng Quốc hội

(Taichinh) –

Ngày 25/6/2015, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi). Đây là đạo luật quan trọng tạo bước ngoặt mới trong quản lý ngân sách nhà nước theo hành lang pháp lý mới đầy đủ và đồng bộ hơn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, xu hướng hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách tài chính công theo hướng hiện đại.

Đảo đảm toàn diện, đồng bộ và chặt chẽ trong quản lý ngân sách nhà nước

Trên cơ sở tổng kết 13 năm thực hiện, để khắc phục các tồn tại, bất cập của Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2002, Luật NSNN mới đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng, như: phạm vi NSNN (Điều 5), bội chi NSNN (khoản 4 Điều 4), mức dư nợ vay của ngân sách cấp tỉnh (khoản 6 Điều 7), dự phòng NSNN (Điều 10), quỹ dự trữ tài chính (Điều 11)… Nội dung về phân cấp quản lý NSNN phù hợp với phân cấp kinh tế – xã hội giữa các cấp chính quyền cũng được rà soát để phù hợp với quy định hiện hành, đồng bộ với Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương cũng được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 9.

Đặc biệt, Luật NSNN mới đã bám sát quy định tại Điều 55 của Hiến pháp năm 2013, đó là: “NSNN, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm nhiệm vụ chi của quốc gia. Các khoản thu, chi NSNN phải được dự toán và do luật định”. Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội tại điều 70, đó là: Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán NSNN và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán NSNN.

Thực hiện quy định của Hiến pháp về việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống NSNN và của nền tài chính quốc gia, Luật NSNN mới đã thể hiện sự thống nhất xuyên suốt trong các quy định về chính sách thu, chi ngân sách, định mức phân bổ ngân sách, bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp… Các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn về chi NSNN đều do trung ương ban hành và thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước. Mọi khoản thu ngân sách được tập trung vào KBNN và do cơ quan có nhiệm vụ thu NSNN thực hiện trên phạm vi toàn quốc. Mọi khoản chi NSNN chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

Luật NSNN mới cũng đã bảo đảm tính đồng bộ với các Luật có liên quan trong hệ thống các luật về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý nợ công…

Các nguyên tắc về cân đối, quản lý ngân sách nhà nước

Khác với Luật NSNN năm 2002, các nguyên tắc quản lý NSNN nằm rải rác ở nhiều điều luật khác nhau. Lần này, Luật NSNN mới đã nhóm thành các nguyên tắc trong 4 điều luật cụ thể, đó là: Nguyên tắc cân đối NSNN (Điều 7); Nguyên tắc quản lý NSNN (Điều 8): Nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách (Điều 9); Nguyên tắc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương (Điều 39). Đây là những nguyên tắc xuyên suốt, bất di bất dịch trong quản lý NSNN đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội hiện nay ở nước ta và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Theo thông lệ quốc tế, các khoản vay để bù đắp bội chi NSNN phải được bố trí trả nợ lãi theo phân loại chi thường xuyên của NSNN (GFS 2001); còn các khoản trả nợ gốc được hạch toán riêng, nhưng vẫn theo dõi và phản ánh đầy đủ trong cân đối NSNN hàng năm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ với các tổ chức quốc tế và nhà đầu tư. Thực tế hiện nay, chi NSNN ở Việt Nam vẫn bao gồm chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay, trong khi bội chi NSNN lại bao gồm toàn bộ các khoản vay để bù đắp chênh lệch thu, chi NSNN; Như vậy, trong phương pháp và cách thức xác định bội chi NSNN, phần vay sẽ phản ánh 2 lần trong chi ngân sách dẫn đến trùng lắp: lần thứ nhất sử dụng nguồn vay để chi, lần thứ 2 là chi trả nợ gốc khi đến hạn. Do đó, mức bội chi NSNN của Việt Nam thường cao hơn so với phương pháp tính bội chi ngân sách theo thông lệ quốc tế.

Để phản ánh đúng bản chất các khoản vay, phù hợp với thông lệ quốc tế, tăng cường tính minh bạch, Luật NSNN mới đã quy định tại một số điều, khoản như: khoản 12, Điều 4 quy định rõ: “Chi trả nợ là nhiệm vụ chi của NSNN để trả các khoản nợ đến hạn phải trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ việc vay”; Điều 5 về phạm vi NSNN đã quy định về thu, chi, bội chi NSNN và tổng mức vay của NSNN (bao gồm vay để bù đắp bội chi NSNN và vay để trả nợ gốc của NSNN); Điều 19 quy định thẩm quyền của Quốc hội quyết định tổng mức vay của NSNN và trả nợ gốc các khoản vay của NSNN. Trong quá trình điều hành NSNN nếu có số tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách so với dự toán thì được sử dụng ưu tiên cho việc tăng chi trả nợ (bao gồm trả nợ gốc và lãi (khoản 2 Điều 59). Cuối năm ngân sách nếu có kết dư của ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh cũng phải bố trí chi trả nợ gốc và lãi các khoản vay của NSNN (Điều 72).

Như vậy, với quy định tại các điều, khoản nêu trên đã thể hiện các trường hợp chi trả nợ gốc và lãi của NSNN. Đối với chi trả nợ gốc khi đến hạn được bố trí từ các khoản vay mới theo quy định của pháp luật để thực hiện. Số bội chi được xác định bằng phần chênh lệch giữa số vay mới trừ đi chi trả nợ gốc. Trường hợp số vay mới lớn hơn số chi trả nợ gốc tại thời điểm vay, thì phát sinh bội chi NSNN. Việc vay nợ sẽ được quản lý và giám sát chặt chẽ, bội chi NSNN những năm tới (bao gồm cả trái phiếu chính phủ) sẽ không bị tính trùng khoản chi trả nợ gốc, phản ánh đúng mức dư nợ vay của Chính phủ, góp phần kiểm soát và giảm dần mức dư nợ công trong tương lai.

Quy định về bội chi ngân sách địa phương

Lần đầu tiên Luật NSNN mới quy định bội chi ngân sách địa phương (NSĐP) là một cấu phần trong bội chi NSNN. Nói cách khác, bội chi NSNN bao gồm bội chi ngân sách trung ương (NSTW) và bội chi NSĐP. Đây là điểm mới quan trọng để tăng cường kiểm soát bội chi NSNN. Nguồn bù đắp bội chi NSNN từ việc vay trong nước và vay nước ngoài, bao gồm cả việc vay từ phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật (Điều 7).

Luật NSNN mới quy định chỉ NSĐP cấp tỉnh mới được phép bội chi. Bội chi NSĐP chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công 5 năm đã được Hội đồng Nhân dân (HĐND) cấp tỉnh quyết định… Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi NSĐP để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của NSNN. Bên cạnh đó, Luật NSNN mới cũng đã nêu rõ những quy định về mức dư nợ vay của NSĐP.

Nguyên tắc thu, chi

Tại Điều 55 Hiến pháp quy định: “Các khoản thu, chi phải được dự toán và do luật định”. Đây là một nguyên tắc trong quản lý NSNN, phù hợp với thông lệ quốc tế. Vì vậy, Luật NSNN mới đã quy định: “Các khoản thu ngân sách thực hiện theo quy định của các luật thuế và chế độ thu theo quy định của pháp luật” (khoản 3 Điều 8); “Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan có thẩm quyền quy định” (khoản 4 Điều 8)… Đồng thời, quy định hành vi bị cấm: xuất quỹ NSNN tại Kho bạc Nhà nước mà không có trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định (khoản 11 điều 18).

Thực hiện phân cấp, phân quyền

Luật NSNN mới đã thực hiện phân cấp, phân quyền khá đầy đủ, toàn diện, rõ ràng, phù hợp với tình hình thực tế: Thẩm quyền của Quốc hội được quy định tại Điều 19, theo đó Quốc hội quyết định bội chi NSNN, bao gồm bội chi NSTW và bội chi NSĐP, chi tiết từng địa phương và quyết định nguồn bù đắp bội chi NSNN. Luật NSNN mới đã quy định một số thẩm quyền cho ý kiến và quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về NSNN tại Điều 20. Bên cạnh đó, Luật NSNN mới đã phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa NSTW và NSĐP (Điều 35, 36, 37, 38), đồng thời giao HĐND cấp tỉnh căn cứ nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSĐP đã được phân cấp để quyết định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương theo các nguyên tắc cụ thể quy định tại Điều 39.

Đặc biệt, HĐND có quyền giao tăng chỉ tiêu thu NSNN trên địa bàn. Điều này phù hợp với thực tế hiện nay khi Thủ tướng Chính phủ thực hiện giao dự toán thu NSNN trên địa bàn cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương…

Quy trình ngân sách, lịch biểu tài chính

Luật NSNN mới đã quy định thời gian lập dự toán NSNN bắt đầu từ 15/5 để phù hợp với Luật Đầu tư công; đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội với các cơ quan của Chính phủ trong thảo luận dự toán NSNN thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách (giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ…). Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong lĩnh vực phụ trách có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan của Chính phủ để lập dự toán NSNN ngành, lĩnh vực. Tại điều 44 đã quy định rõ về quy trình lập dự toán NSNN.

Các khoản thu ngân sách nhà nước

Không chỉ số thu từ thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, Luật NSNN mới đã khẳng định số thu từ lệ phí và phí thực hiện nộp NSNN theo quy định của pháp luật. Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước. Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả (trao đổi ngang giá) khi được cung cấp dịch vụ công. Vì vậy, cần thiết quy định thuế và lệ phí là khoản thu bắt buộc thuộc NSNN. Còn đối với phí, chỉ thu vào NSNN đối với phần chênh lệch giữa thu và chi của một số loại phí; riêng học phí, viện phí và khoảng hơn 10 loại phí khác dự kiến chuyển sang giá dịch vụ, là doanh thu của các đơn vị cung cấp dịch vụ công, sẽ được quy định cụ thể và rõ ràng hơn trong Luật phí, lệ phí.

Luật NSNN mới quy định thu từ hoạt động xổ số kiến thiết và thu tiền sử dụng đất đều đưa vào cân đối NSNN (như Luật NSNN năm 2002) nhưng không sử dụng để xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa NSTW và NSĐP hoặc xác định số bổ sung cân đối từ NSTW cho NSĐP. Ngoài ra, Luật NSNN mới còn quy định rõ các khoản thu NSNN bao gồm thu từ đầu tư ra nước ngoài, thu từ cổ tức thuộc vốn cổ phần của Nhà nước và thu tiền bán vốn, tài sản Nhà nước sau khi giảm trừ chi phí cổ phần hoá, thu lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật tại các doanh nghiệp Nhà nước… để bảo đảm tính bao quát và toàn diện các khoản thu NSNN.

Phạm vi chi ngân sách nhà nước cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước

Hiện nay, có nhiều quỹ ngoài ngân sách, cần thu hẹp các quỹ, quản lý chặt chẽ hơn, bảo đảm sự tập trung của NSNN, tránh sự chồng chéo trong quản lý. Các quỹ hiện nay chủ yếu được thành lập theo quy định tại nhiều Luật và Nghị định có tính chất chuyên ngành nên với phạm vi điều chỉnh đặc thù, Luật NSNN mới quy định nguồn thu nào thuộc phạm vi ngân sách thì phải nộp về NSNN và điều kiện để NSNN hỗ trợ vốn điều lệ cho các quỹ nhằm hạn chế việc thành lập mới các quỹ ngoài ngân sách.

Để hạn chế chi chuyển nguồn, Luật NSNN mới chỉ cho phép chuyển nguồn sang năm sau đối với một số khoản chi như: mua sắm trang thiết bị, nguồn cải cách tiền lương, kinh phí tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và cơ quan nhà nước, các khoản dự toán bổ sung sau 30/9 năm hiện hành…

Bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới

Về bổ sung cân đối (khoản 8 Điều 9): Luật NSNN mới quy định: “Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) nộp về ngân sách cấp trên đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách”. Quy định trên nhằm tăng cường trách nhiệm của các địa phương phát triển kinh tế, tăng quy mô ngân sách, góp phần bảo đảm cân đối NSNN vững chắc.

– Về bổ sung có mục tiêu của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới (khoản 3 Điều 40): Luật NSNN mới quy định 4 trường hợp được ngân sách cấp trên bổ sung có mục tiêu. Số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được xác định theo định mức phân bổ ngân sách và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; khả năng ngân sách cấp trên và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương cấp dưới, để hỗ trợ ngân sách cấp dưới trong các trường hợp cụ thể.

Dự phòng ngân sách

Luật NSNN mới đã không quy định về dự phòng ngân sách tại một số bộ, ngành trung ương, vì cho rằng nếu quy định thì sẽ mâu thuẫn với nguyên tắc giao, phân bổ ngân sách phải bảo đảm đủ, đúng cho các cơ quan sử dụng NSNN theo nghị quyết của Quốc hội, quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Dự phòng NSNN là một khoản mục trong dự toán chi ngân sách chưa phân bổ đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định ở từng cấp ngân sách. Mức bố trí dự phòng từ 2% đến 4% tổng chi ngân sách mỗi cấp. Dự phòng NSNN sử dụng để: Chi phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh, cứu đói; nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ cần thiết khác….

Luật cũng quy định: Chính phủ quy định thẩm quyền quyết định sử dụng dự phòng ngân sách trung ương, định kỳ báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội việc sử dụng dự phòng ngân sách trung ương và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Khắc phục một số vấn đề tồn tại trong điều hành ngân sách nhà nước hiện nay

– Về ứng trước dự toán năm sau (Điều 57): Để bảo đảm kỷ cương tài chính, Luật NSNN mới đã quy định việc ứng trước dự toán năm sau: “Ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp huyện được ứng trước dựtoán ngân sách năm sau để thực hiện các dự án quan trọng quốc gia, các dự án cấp bách của trung ương và địa phương thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn NSNN đã được cấp có thẩm quyền quyết định. Mức ứng trước không quá 20% dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản năm thực hiện của các công trình xây dựng cơ bản thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn NSNN đã được phê duyệt…”.

– Về thưởng vượt thu: Luật NSNN đã quy định về thưởng cho ngân sách địa phương tại khoản 4 điều 59 như sau: “Trường hợp ngân sách trung ương tăng thu so với dự toán từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương, ngân sách trung ương trích một phần theo tỷ lệ không quá 30% của số tăng thu thưởng cho các địa phương có tăng thu nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước…”.

– Về chuyển nguồn ngân sách: Để hạn chế chi chuyển nguồn, Luật NSNN mới đã quy định tại khoản 3 Điều 64, chỉ cho phép chuyển nguồn sang năm sau đối với một số khoản chi như: mua sắm trang thiết bị, nguồn cải cách tiền lương, kinh phí tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và cơ quan nhà nước, các khoản dự toán bổ sung sau 30/9 năm hiện hành, kinh phí nghiên cứu khoa học, khoản tăng thu, tiết kiệm chi của các ngành, địa phương; đối với chi đầu tư phát triển thì thực hiện chuyển nguồn sang năm sau theo quy định của Luật Đầu tư công.

Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi

Theo quy định của Luật NSNN mới thì thu NSTW được hưởng theo phân cấp chiếm bình quân khoảng 66-70% tổng thu NSNN, nếu tính cả bội chi NSNN chiếm khoảng 70-75% tổng nguồn thu NSNN, thu NSĐP theo phân cấp (chưa kể số bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu từ NSTW cho NSĐP) chiếm bình quân khoảng 25-30% tổng nguồn NSNN, do vậy, NSTW đã chiếm vai trò chủ đạo, đúng như quy định của Hiến pháp năm 2013. Một số nguồn thu lớn tiếp tục là nguồn thu của NSTW nhưng đồng thời chuyển khoản thu thuế TNDN của các đơn vị hạch toán tập trung thành khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP. Nội dung này được thể hiện tại Điều 35, Điều 37 của Luật NSNN mới.

Quy định về quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra

Để quản lý hiệu quả việc sử dụng ngân sách, Luật NSNN mới đã giao Chính phủ quy định việc thực hiện quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ (khoản 15 Điều 25); đồng thời, tại khoản 1 điều 61 quy định: “Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng ngân sách theo dự toán được giao, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách”.

Ngoài những nội dung nêu trên, Luật NSNN mới đã sử dụng thuật ngữ “Kế hoạch tài chính 5 năm” cho phù hợp với Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm. Đồng thời, bổ sung làm rõ về nội dung, ý nghĩa, thủ tục lập Kế hoạch tài chính 5 năm (Điều 17). Quy định phương pháp xây dựng kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm theo phương thức cuốn chiếu, được lập cho năm dự toán và 2 năm dự báo (Điều 43). Luật NSNN mới đã dành 2 Điều (điều 15 và điều 16) để quy định về công khai ngân sách và giám sát ngân sách của cộng đồng. Luật NSNN mới cũng đã quy định việc kế toán, quyết toán thu, chi NSNN tại điều 13, quy định về quản lý ngân quỹ nhà nước tại điều 62… Bên cạnh đó, theo Luật NSNN mới, thời kỳ ổn định ngân sách được quy định với thời gian 5 năm, trùng với kỳ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm. Luật NSNN mới có hiệu lực từ năm ngân sách 2017.

 

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 8 kỳ 1-2015

 

 

LUẬT NSNN NĂM 2015, NHỮNG NỘI DUNG MỚI CẦN QUAN TÂM

Ngày 16/12/2015

Ngày 25/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) sữa đổi. Luật NSNN năm 2015 được áp dụng từ năm ngân sách 2017, thay thế Luật NSNN năm 2002 sau 13 năm thực hiện.

Đây là lần thứ 4 Luật NSNN được ban hành: Luật NSNN được ban hành ngày 20/3/1996 có hiệu lực năm 1997; Luật NSNN năm 1998; Luật NSNN được ban hành ngày 16/12/2002 có hiệu lực từ năm ngân sách 2004.

Những điểm mới có liên quan đến công tác thu NSNN trong Luật NSNN năm 2015 như sau:

  1. Luật NSNN mới đã bảo đảm nguyên tắc thu, chi phải có dự toán:

Các khoản thu ngân sách thực hiện theo quy định của các Luật thuế và chế độ thu theo quy định của pháp luật (quy định tại khoản 3 Điều 8);

Các khoản chi ngân sách chỉ thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan có thẩm quyền quy định (quy định tại khoản 4 Điều 8);

  1. Luật NSNN mới đã quy định đầy đủ các khoản thu NSNN:

– Số thu từ thuế là nguồn thu chủ yếu;

– Số thu từ Lệ phí, phí do cơ quan nhà nước ban hành;

– Số thu phí, giá dịch vụ do đơn vị, tổ chức, cá nhân cung cấp: chỉ thu vào NSNN đối với phần chênh lệch (sau khi bù đắp các khoản chi phí).

  1. Luật NSNN đã quy định rỏ để khắc phục một số vấn đề tồn tại trong điều hành NSNN hiện nay.

– Luật quy định về ứng trước dự toán năm sau được quy định chi tiết tại Điều 57 của Luật NSNN 2015

– Quy định về phân bổ, sử dụng số tăng thu được quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật NSNN năm 2015.

– Quy định về thưởng vượt thu ngân sách được quy định tại khoản 4 Điều 59 của Luật NSNN 2015.

  1. Luật NSNN tiếp tục quy định rỏ ràng về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Cụ thể:

          – Các khoản thu NSTW 100%.

          – Các khoản thu NSĐP 100%.

          – Các khoản thu phân chia: Chuyển thuế TNDN của các đơn vị hạch toán tập trung từ 100% TW thành khoản thu phân chia TW-ĐP.

  1. Luật NSNN mới cũng quy định về chế độ kế toán nhà nước và báo cáo tình hình tài chính ngân quỹ nhà nước.

          – Thu, chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam.

          – Trường hợp các khoản thu chi NSNN bằng ngoại tệ thì được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hạch toán do cơ quan có thẩm quyền quy định để hạch toán thu chi NSNN tại tời điểm phát sinh. Các khoản thu, chi của NSNN phải được hạch toán kế toán, quyết toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ. Kế toán và quyết toán NSNN được thực hiện thống nhất theo chế độ kế toán nhà nước, mục lục NSNN. Chứng từ thu chi NSNN được phát hành, sử dụng và quản lý theo quy định của pháp luật.

  1. Điểm mới về ổn định ngân sách, cơ chế đặc thù.

          Thời kỳ ổn định ngân sách được quy định với thời gian 5 năm, trùng với kỳ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (Điều 4).

          Luật cũng quy định cơ chế tài chính đặc thù đối với thủ đô Hà Nội, TP.HCM và một số tỉnh, thành phố, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt được quy định tại Điều 74.

  1. Luật NSNN mới đã quy định đầy đủ các khoản thu NSNN.

          Không chỉ số thu từ thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, Luật NSNN lần này đã khẳng định số thu từ lệ phí và phí thực hiện nộp NSNN theo quy định của pháp luật. Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý. Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả (trao đổi ngang giá) khi được cung cấp dịch vụ công. Vì vậy, cần thiết quy định thuế và lệ phí là khoản thu bắt buột thuộc NSNN. Còn đối với phí, chỉ thu vào NSNN đối với phần chênh lệch giữa thu và chi của một số loại phí; riêng học phí, viện phí và khoảng hơn 10 loại phí khác dự kiến chuyển sang giá dịch vụ, là doanh thu của các đơn vị cung cấp dịch vụ công, sẻ được quy định cụ thể và rỏ ràng hơn trong Luật phí, lệ phí. Theo đó khoản 1 Điều 5 quy định thu NSNN là toàn bộ các khoản thuế, lệ phí, các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện; trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách theo quy định của pháp luật.

          Đối với thu xổ số kiến thiết (XSKT) đã được đưa vào cân đối ngân sách. Thu từ xổ số chỉ phục vụ cho chi đầu tư, chi giáo dục, không dùng để chi thường xuyên. Thu từ XSKT là các khoản thuế thu từ hoạt động XSKT (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, và thuế TNDN); vì vậy, về nguyên tắc khoản thu này phải được cân đối chi NSNN như đối với các khoản thuế, lệ phí và phí. Tuy nhiên, hoạt động XSKT là hoạt động vui chơi có thưởng có sự quản lý của Nhà nước mà Nhà nước không khuyến khích. Mục đích thu từ hoạt động XSKT là để phục vụ lợi ích công cộng.

          Đối với khoản thu tiền sử dụng đất (SDĐ) là khoản thu có tính chất như thuế Tài nguyên, gắn với từng địa bàn và phúc lợi dân cư, do vậy tiếp tục sử dụng nguồn thu này để đầu tư trở lại xây dựng cơ sở hạ tầng như hiện nay.

          Để giảm áp lực trong cân đối NSNN, tạo ra sự bình đẳng giữa các địa phương (chủ yếu là các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, năm 2014 chiếm 86% tổng số thu XSKT cả nước), tăng nguồn lực chi đầu tư phát triển cho lĩnh vực y tế, giáo dục và các công trình phúc lợi công cộng theo Nghị quyết của Đảng, Luật NSNN mới đã quy định thu từ hoạt động XSKT và thu tiền SDĐ đều đưa vào cân đối NSNN (như luật NSNN năm 2002) nhưng không sử dụng để xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa NSTW và NSĐP hoặc xác định số bổ sung cân đối từ NSTW cho NSĐP.

          Ngoài ra, Luật NSNN mới còn quy định rỏ các khoản thu NSNN bao gồm thu từ đầu tư ra nước ngoài, thu từ cổ tức thuộc vốn cổ phần của Nhà nước và thu tiền bán vốn, tài sản Nhà nước sau khi giảm trừ chi phí cổ phần hóa, thu lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật tại các doanh nghiệp Nhà nước…để bảo đảm tính bao quát và toàn diện các khoản thu NSNN.

Nguồn: Trích từ Luật NSNN năm 2015.                                         Trần Khánh Duy

 

Những điểm nổi bật của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.

Ngày 25/6/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi với 7 chương 77 điều. Nhiều nội dung mới được quy định theo hướng tăng cường công khai, tăng cường quản lý nợ công, quản lý chặt các quỹ dự trữ.

 

Kết quả biểu quyết Luật Ngân sách Nhà nước tại Quốc hội

Tăng cường tính công khai : Luật ngân sách nhà nước năm 2015 quy định nội dung công khai bao gồm: số liệu và báo cáo thuyết minh dự toán ngân sách nhà nước trình Quốc hội, Hội đồng nhân dân, dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định, tình hình thực hiện ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách nhà nước; kết quả thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước; trừ số liệu chi tiết, báo cáo thuyết minh thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, dự trữ quốc gia;Việc công khai ngân sách nhà nước được thực hiện bằng một hoặc một số hình thức: công bố tại kỳ họp, niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị; phát hành ấn phẩm; thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; đưa lên trang thông tin điện tử; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước hằng quý, 06 tháng phải được công khai chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày kết thúc quý và 06 tháng.

Công khai thủ tục ngân sách nhà nước được quy định tại Điều 15: Đối tượng phải thực hiện công khai gồm các cơ quan thu, cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước;Nội dung công khai bao gồm: các quy định về quy trình, thủ tục kê khai, thu, nộp, miễn giảm, gia hạn, hoàn lại các khoản thu; tạm ứng, cấp phát, thanh toán ngân sách nhà nước; Việc công khai được thực hiện bằng các hình thức niêm yết tại nơi giao dịch và công bố trên trang thông tin điện tử của cơ quan.

Về quản lý nợ công: Tại Điều 19, Luật đã quy định, Quốc hội quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ. Bộ Tài chính chủ trì xây dựng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công trong từng giai đoạn 05 năm; chương trình quản lý nợ trung hạn; hệ thống các chỉ tiêu giám sát nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia; kế hoạch vay, trả nợ hằng năm của Chính phủ.

Luật cũng quy định: các thông tin về nợ công theo Luật quản lý nợ công, số nợ đến hạn phải trả, số nợ quá hạn phải trả, số lãi phải trả trong năm, số nợ sẽ phát sinh phải thêm do phải vay để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, khả năng trả nợ trong năm và số nợ đến cuối năm là các nội dung Chính phủ trình Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương. Riêng hồ sơ trình dự toán, phương án phân bổ ngân sách địa phương, Luật này giao Chính phủ quy định.

Về quản lý quản lý quỹ dự trữ : Các trường hợp thu ngân sách nhà nước hoặc vay để bù đắp bội chi không đạt mức dự toán được Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định và thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh trên diện rộng, với mức độ nghiêm trọng, nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán mà sau khi sắp xếp lại ngân sách, sử dụng hết dự phòng ngân sách mà vẫn chưa đủ nguồn, được sử dụng quỹ dự trữ tài chính để đáp ứng các nhu cầu chi nhưng mức sử dụng trong năm tối đa không quá 70% số dư đầu năm của quỹ.

Xử lý tăng, giảm thu, chi so với dự toán trong quá trình chấp hành ngân sách nhà nước:  Điều 59 của Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi năm 2015 đã quy định: Trường hợp dự kiến số thu không đạt dự toán được Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định, thực hiện điều chỉnh giảm một số khoản chi theo quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 52 của Luật này.  Số tăng thu, trừ tăng thu của ngân sách địa phương do phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách phải nộp về ngân sách cấp trên và số tiết kiệm chi ngân sách so với dự toán được sử dụng theo thứ tự ưu tiên như sau: Giảm bội chi, tăng chi trả nợ, bao gồm trả nợ gốc và lãi; Bổ sung quỹ dự trữ tài chính; Bổ sung nguồn thực hiện chính sách tiền lương; Thực hiện một số chính sách an sinh xã hội; Tăng chi đầu tư một số dự án quan trọng; Thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 59.

           Luật có hiệu lực thi hành kể từ năm ngân sách 2017.

 

Các câu hỏi, bài tập

CÂU HỎI, TÌNH HUỐNG ÔN TẬP PHẦN LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.

I- Câu hỏi.

1- Khái niệm, đặc điểm của NSNN? Cho biết nguồn gốc ra đời của thuật ngữ NSNN?

2- Phân tích vai trò của NSNN?

3- Phân tích sự tác động của một kế hoạch thu, chi NSNN đối với hiện tượng lạm phát và thiểu phát của nền kinh tế quốc gia?

4- Việc chi tiêu NSNN ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia?

5- Bản kế hoạch thu, chi tài chính của Nhà nước trong một năm dương lịch sau khi được Quốc Hội thông qua có tên gọi là gì? Giải thích tại sao lại có tên gọi như vậy?

6- Trình bày hệ thống NSNN của nước ta hiện nay? Phân tích mối quan hệ giữa các cấp ngân sách trong hệ thống NSNN?

7- Điều 4 Luật NSNN quy định: “NSNN bao gồm NSTW và NSĐP. NSĐP là ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uy ban nhân dân”. Hãy giải thích tại sao Luật NSNN không quy định: NSĐP là ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện, và ngân sách cấp xã, mà lại quy định về NSĐP như trên?

8- Quan hệ pháp luật NSNN là gì? Trình bày các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật NSNN? Anh, chị hãy cho biết, xét về bản chất,  quan hệ pháp luật Ngân sách Nhà nước là quan hệ pháp luật tài chính hay quan hệ pháp luật hành chính? Tại sao?

9- Phân biệt khái niệm NSNN và Luật NSNN.

10- Phân tích mối quan hệ giữa Ngân sách Nhà nước và các khâu tài chính khác trong Hệ thống tài chính quốc gia?

11- Thế nào là phân cấp quản lý NSNN? Vai trò của hoạt động phân cấp quản lý NSNN?

12- Phân tích nội dung của nguyên tắc “tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch” trong quản lý và điều hành NSNN?

13- Phân biệt giữa khoản thu điều tiết và thu bổ sung của các cấp ngân sách?

14- Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước được xác định như thế nào? Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định? Tại sao?

15- Việc trích lập quỹ dự phòng và quỹ dự trữ tài chính của các cấp ngân sách có bị giới hạn bởi mức tối đa do pháp luật Ngân sách Nhà nước quy định hay không? Tại sao?

16- Thế nào là một chu trình NSNN? Tại sao pháp luật NSNN quy định thời gian quyết toán NSNN (tối đa 18 tháng) dài hơn rất nhiều so với thời gian lập và phê chuẩn dự toán NSNN (6 tháng), và thời gian chấp hành dự toán NSNN (12 tháng)?

17- Công khai ngân sách có phải là quy định mang tính bắt buộc không và được thực hiện như thế nào?

18- Dự pgòng ngân sách được sử dụng cho những mục tie6u nào? Thẩm quyền quyết định từ dự phòng ngân sách?

19- Qũy dự trữ tài chính là gì? Những cấp nào được lập quỹ dự trữ tài chính? Nguồn hình thành và mức khống chế tối đa của quỹ dự trữ tài chính ở mỗi cấp?

20- Tổ chứ, cá nhân nào được quyền phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước?

21- Phân biệt đơn vị dự toán NSNN và các cấp NSNN?

22- Trình bày quy trình lập và phê chuẩn dự toán NSNN?

23- Nêu ý nghĩa của việc quyết toán NSNN?

24- Ổn định ngân sách là gì? Thời kỳ ổn định ngân sách? Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định cụ thể thời kỳ ổn định ngân sách?

25- Bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được xác định như thế nào?

26- Số bổ sung cân đối và số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới có gì khác nhau?

27- Phân biệt hoạt động thu NSNN và hoạt động thu tài chính của các chủ thể khác trong xã hội?

28- Phân tích mối quan hệ giữa thu ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia?

29- Phân biệt phí thuộc NSNN và phí không thuộc NSNN?

30- Phân biệt cơ quan thu NSNN và cơ quan quản lý nguồn thu của NSNN?

31- Phân biệt hoạt động chi NSNN và hoạt động chi tài chính của các chủ thể khác?

32- Phân biệt chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển?

33- Các khoản chi ngân sách nhà nước trong dự toán ngân sách nếu hết ngày 31/12 mà chưa thực hiện hoặc chưa chi hết có đựơc chuyển sang năm sau tiếp tục thực hiện hay không? Tại sao?

34- Phân biệt chi sự nghiệp kinh tế, và chi đầu tư phát triển kinh tế?

35- Phân biệt nguyên tắc chi NSNN cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước; hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; và hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp?

36- Ý nghĩa của khoản chi đầu tư phát triển trong kết cấu chi NSNN.

37- So sánh quỹ NSNN và các quỹ tiền tệ khác của Nhà nước là quỹ dự trữ Nhà nước, quỹ dự trữ tài chính Nhà nước?

38- Phân biệt quản lý NSNN và quản lý quỹ NSNN?

39- Phân tích mối quan hệ giữa KBNN và các cơ quan Nhà nước khác như cơ quan thu NSNN, cơ quan tài chính, và cơ quan chính quyền các cấp trong quá trình quản lý quỹ NSNN?

40- Anh chị hãy bình luận quan điểm sau: Việc KBNN thực hiện các chức năng của mình làm cho KBNN vừa mang tính chất của cơ quan tài chính, vừa mang tính chất của một ngân hàng.

41- Cơ quan nào có thẩm quyền và trách nhiệm duyệt quyết toán ngân sách nhà nước? Nội dung, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan này khi duyệt quyết toán ngân sách nhà nước?

42- Cơ quan nào có thẩm quyền và trách nhiệm thẩm định quyết toán ngân sách nhà nước? Nội dung, quyền hạn, nghĩa vụ của các cơ quan này khi thẩm định quyết toán ngân sách nhà nước?

43- Thế nào là trì hoãn các khoản chi ngân sách nhà nước? Hành vi trì hoãn các khoản chi ngân sách nhà nước bị xử lý như thế nào?

44- Chức năng tư vấn của cơ quan Kiểm toán Nhà nước được thể hiện như thế nào? Việc thực hiện chức năng này của cơ quan Kiểm toán Nhà nước có ý nghĩa gì đối với việc quản lý và điều hành ngân sách nhà nước?

45- So sánh hoạt động Thanh tra tài chính công và hoạt động Kiểm toán nhà nước.

46- So sánh tính độc lập của cơ quan thanh tra tài chính công và cơ quan kiểm toán Nhà nước trong hoạt động chuyên môn của các cơ quan này?

47- Phân biệt Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập?

48- Phân tích địa vị pháp lý của cơ quan KTNN Việt Nam theo quy định tại Luật KTNN ngày 14/06/2005? Địa vị pháp lý đó có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của cơ quan KTNN?

49- Phân tích vai trò của KTNN? Vai trò của cơ quan KTNN Việt Nam hiện nay thể hiện như thế nào? Các anh, chị hãy trình bày những giải pháp góp phần nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của KTNN?

50- Cho biết các yếu tố có khả năng tác động đến tính độc lập trong hoạt động của cơ quan kiểm toán nhà nước.

II- Trả lời nhận định đúng, sai? Giải thích?

1- Nguồn vốn vay nợ của Chính Phủ được sử dụng để đảm bảo hoạt động thường xuyên của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

CP vay để bù đáp bội chi, tạm thời thiếu; mục đích sử dụng là cho phát triển => not only cho mục đích QLHCNN

CSPL: k2-8

2- Thu bổ sung để cân đối ngân sách là khoản thu thường xuyên của các cấp NS.

Thu bổ sung of cấp dưới là chi của NS cấp trên, và chi của cấp trên chỉ trong các TH tại điều 29 NĐ 60 => not là thường xuyên.

CSPL: k2-Điều 29 NĐ 60

3- Khoản thu 100% của ngân sách địa phương là khoản thu do cấp ngân sách địa phương nào thu thì cấp ngân sách đó được hưởng 100%.

Sai

CSPL:k2-34 LNS

4- Khoản thu từ thuế GTGT là khoản thu được phân chia theo tỷ lệ % giữa NSTW và NSĐP.

Sai, thuế GTGT HH NK thì lại là khoản thu của NSTW (cả TTĐB cũng zị)2

CSPL: 1a, 2a-30

5- Kết dư ngân sách nhà nước hàng năm được nộp vào quỹ dự trữ nhà nước theo quy định của pháp luật NSNN hiện hành.

Sai, trích 50% vào quỹ dự trữ tài chính

CSPL: Dieu 63 LNS,

6- Mức bội chi NSNN được xác định bằng tổng mức bội chi của NSTW và NSĐP trong năm ngân sách.

Sai, bội chi NSNN là chỉ có ở cấp TW

CSPL:  k3-8 LNS, k1-4 ND 60

7- Phát hành thêm tiền là một trong những biện pháp góp phần giải quyết bội chi NSNN.

Sai

CSPL: k2-8 LNS, k2-4 ND 60

8- Việc lập và phê chuẩn dự toán Ngân sách Nhà nước do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc Hội thực hiện.

Sai, QH không có lập

CSPL:k3-20, k3-21 + k3-15

9- Trong mọi trường hợp, dự toán NSNN phải đựơc Quốc Hội thông qua trứơc ngày 15/11 của năm trứơc.

Sai

CSPL: k4-45 LNS

10- Ủy ban nhân dân là cơ quan có thẩm quyền quyết định dự toán ngân sách nhà nước cấp mình.

Sai, HDND mới là CQ quyết định

K2-26

11- Các đơn vị dự toán ngân sách được trích lại 50% kết dư ngân sách để lập quỹ dự trữ tài chính của đơn vị.

Sai

CSPL: 63 LNS, 3c-58 ND60

12- Quỹ dự trữ tài chính là quỹ tiền tệ được sử dụng để khắc phục hậu quả của thiên tai.

Sai, trên diện rộng, nghiêm trọng

CSPL:3đ-58 NĐ60

13- Số tăng thu NS cấp tỉnh đựơc dùng để thưởng cho các đơn vị dự toán NSNN theo quyết định của Chủ tịch UBND.

Sai, not theo quyết định của CTUBND tỉnh

CSPL: k1,5-59; 58 NĐ60

14- Hội đồng nhân dân các cấp có thẩm quyền quyết định về mức thu phí trên địa bàn thuộc quyền quản lý.

Sai, chỉ dc quyết định 1 số khoản phí theo phân cấp; ngoài ra chỉ có HDND cấp tỉnh

CSPL: 8c-25

15- Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong lĩnh vực chấp hành ngân sách nhà nước.

Sai

CSPL: k1-50; k4,5-20

16- Dự phòng ngân sách là khoản tiền được sử dụng để thực hiện những khoản chi khi nguồn thu chưa kịp đáp ứng.

Sai

17- Cơ quan thuế là cơ quan có chức năng thu và quản lý các nguồn thu của NSNN.

Đúng

CSPL: 2A TT128

18- Tất cả các khoản thu NSNN đều phải tập trung vào KBNN.

Sai, vẫn có thể gián tiếp qua tổ chức, cá nhân dc giao sau đó mới đem về lại cho KBNN

CSPL 2A TT 128

19- Kho bạc nhà nước là cơ quan có thẩm quyền thu NSNN.

Đúng

CSPL: 2-A, 2II-B TT 128

20- Tất cả các cơ quan nhà nước đều là chủ thể tham gia quan hệ pháp luật chi NSNN.

Đúng, do tất cả các CQNN đều có hoạt động thu, chi NSNN nên là chủ thể tham gia của QHPL này

CPSL: điều 1,2

21- Bộ trưởng Bộ tài chính là chủ thể duy nhất được quyền quyết định các khoản chi từ dự phòng ngân sách Trung ương.

Sai, k1-7 ND60

502

a/

Đúng

CSPL: Điều 26

b/

Sai, địa phương cũng được

CSPL:k3-8

c/

Sai, phải có sự thông nhất với TT HĐND

CSPL: 1c-59

d/

Sai, do khoản thu đất PNN là khoản thu mà NS xã, thị trấn được hưởng chứ ko phải là NS cấp xã (xã, phường, thị trấn)

CSPL:1b-34

e/Đúng

CSPL:54

501

a/ giống 502a

b/

II- Tình huống.

Bài 1.

Trong năm ngân sách 2005, chủ tịch UBND Tỉnh B đã có một số quyết định như sau:

a- Trích 10 tỷ đồng từ quỹ dự trữ tài chính của Tỉnh để thực hiện các khoản chi nhằm khắc phục hậu quả thiên tai diễn ra trên địa bàn của Tỉnh.

TQ đúng

Mục đích sai:

(gia dinh du phong DTNS da het)

3đ-58 ND60

Tuy nhiên vẫn chưa biết nó đã vượt quá 30% hay chưa

Ngoài ra…

b- Sử dụng 300 triệu đồng từ dự phòng ngân sách của Tỉnh để phục vụ cho công tác phòng chống dịch cúm gia cầm.

Đúng TQ (k2-7 ND)

Mục đích: không do cái này ko thể dự toán được trong năm NS (cơ mà giả sử dịch sốt xuất huyết thì dự toán được)

c- Chỉ đạo Chi cục Kho bạc nhà nước Tỉnh trích 50% số tăng thu của Tỉnh để thưởng tết cho các cán bộ thuộc Cục thuế Tỉnh.

Sai, cả mục đích t99và thẩm quyền (phải thống nhất với TT HDND)

K1,5-59

d- Cho phép Sở thể dục thể thao của Tỉnh được chuyển khoản chi 500 triệu xây dựng phòng thể thao đa năng chưa kịp xây dựng sang năm sau tiếp tục thực hiện.

Đúng

K2-66 ND 60

Hỏi: Những quyết định trên của Chủ tịch UBND tỉnh là đúng, sai như thế nào? Vì sao?

Bài 2:

Tháng 2 năm 2005, để chuẩn bị cho việc lập quyết toán ngân sách nhà nước của tỉnh H năm 2004, Chủ tịch UBND tỉnh quyết định:

Đối với một số khoản chi thuộc dự toán chi ngân sách tỉnh năm 2004, nhưng vì những lý do khách quan mà chưa được thực hiện trong năm 2004, sẽ được tiếp tục thực hiện trong năm 2005 và được hạch toásân vào quyết toán ngân sách tỉnh năm cv 2004.
Có thể sai

Do ta chưa biết nó chi trước hay sau khi chỉnh lý quyết toán, nếu nó chi sau thì theo 2b-66 ND60

Cho phép các đơn vị dự toán ngân sách của ngân sách cấp tỉnh được giữ lại phần kết dư ngân sách 2004, (nếu có), và phần tài chính này được khấu trừ vào kinh phí hoạt động của các đơn vị này trong năm 2005.
Sai, các DV sử dụng NSNN thì phải mở TK tại kho bạc nha nước, tiền của DVi là tiền trên số dư Tài khoản, cuối năm phải về 0 chứ ko có kết dư rồi chuyền

CSPL:k7-66,2a-69 ND 60

Quyết định sử dụng Quỹ dự trữ tài chính của tỉnh để xử lý phần chi tiêu vượt dự toán của đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh khi thực hiện việc xúc tiến thương mại, kêu gọi đầu tư tại một số nước Châu Au vào giữa năm 2004.
Ko đúng mục đích sử dụng của quỹ

Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo: quá trình lập quyết toán chi năm 2004 của tỉnh phải bao gồm tất cả số đã thực chi, kể cả phần kinh phí do ngân sách TW uỷ quyền cho tỉnh để thực hiện một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng trên điạ bàn tỉnh.
Sai

K4-68 ND60

Nguyên tác: khoản chi của cấp nào thì   quyết toán

Theo anh, chị, những quyết định chỉ đạo trên của Chủ tịch UBND tỉnh H là đúng hay sai theo pháp luật NSNN hiện hành? Giải thích rõ tại sao?

Bài 3:

Trong dự toán ngân sách của huyện X năm 2006 có một số nội dung sau đây:

Tập trung 70% nguồn thu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp vào nguồn thu của ngân sách huyện, 30% còn lại là nguồn thu của các xã trên địa bàn huyện.
Cấp huyện là sai

CSPL: 1b-34

Trích 3% tổng số chi ngân sách huyện để lập dự phòng ngân sách huyện.
Đúng

K1-7 ND

Thực hiện hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Hội sản xuất đồ mỹ nghệ của huyện nhằm phát triển ngành kinh tế truyền thống này của địa phương. Theo đó, mức hỗ trợ được xác định tương ứng với mức chênh lệch giữa nhu cầu chi và khả năng tài chính của Hội.
Sử dụng toàn bộ số thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ các doanh nghiệp trên địa bàn huyện để thực hiện các chương trình phát triển kinh tế của huyện.
Theo anh, chị, những nội dung trên trong dự toán ngân sách của huyện X có phù hợp với quy định của pháp luật NSNN hiện hành hay không? Tại sao?

Bài 4:

Trong dự toán ngân sách 2006 của tỉnh A có một số nội dung sau đây:

Tỉnh A thực hiện bổ sung 50 tỷ cho huyện B, (thuộc tỉnh A), nhằm uỷ quyền cho huyện B tiến hành nâng cấp Hệ thống cấp nước sạch trên địa bàn huyện. (Đây vốn là nhiệm vụ của tỉnh A).
Giảm mức bổ sung cân đối ngân sách cho huyện C, (thuộc tỉnh A), là 30% so với mức thực hiện năm 2005 do dự kiến nguồn thu của huyện C trong năm 2006 sẽ tăng hơn nhiều so với năm 2005.
Trong năm 2006, tỉnh A sẽ tổ chức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để đảm bảo bổ sung 40% tổng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách tỉnh.
Trong trường hợp cần thiết, cho phép UBND tỉnh A có quyền sử dụng tối đa 40% số dư của Quỹ dự trữ tài chính tỉnh nhằm xử lý cân đối ngân sách tỉnh.
Sai, vượt quá mức 30%`n

Căn cứ vào quy định của pháp luật NSNN hiện hành, anh, chị hãy nêu nhận xét của mình về từng vấn đề nêu trên trong dự toán ngân sách của tỉnh A năm 2006?

Bài 5.

Trong năm 2005, UBND phường D đã thực hiện một số hoạt động sau đây:

Thực hiện phụ thu thêm 2000 đồng/một bản chứng thực sao y hồ sơ, giấy tờ của người dân nhằm cải thiện đời sống cho cán bộ, nhân viên và nâng cấp cơ sở vật chất của phường.
Yêu cầu đơn vị Kho bạc Nhà nước không áp dụng biện pháp xử lý chậm nộp như trích tài khoản tiền gửi, kê biên tài sản… đối với một số doanh nghiệp trên địa bàn phường chậm nộp thuế do các doanh nghiệp này có đóng góp rất nhiều cho chương trình xoá đói, giảm nghèo của phường.
Sử dụng nguồn tăng thu so với dự toán ngân sách phường để thưởng cho các đơn vị có đóng góp lớn cho nguồn thu ngân sách phường.
Thực hiện vay từ Quỹ dự trữ tài chính của thành phố để xử lý cân đối ngân sách phường, nhằm khắc phục hậu quả nghiêm trọng của dịch cúm gia cầm. Ví dụ: Hỗ trợ cho các hộ chăn nuôi chuyển đổi ngành nghề, ổn định đời sống; tiêu huỷ gia cầm, cung ứng vắcxin cho nhân dân…
Những hoạt động trên của UBND phường D là đúng hay sai theo pháp luật NSNN hiện hành? Tại sao?

Bài 6.

Trong quá trình thực hiện dự toán ngân sách năm 2005, Chủ tịch UBND tỉnh A đã có một số quyết định sau đây:

a- Quyết định ban hành một số khoản phí trên địa bàn Tỉnh A để tăng thu cho ngân sách của Tỉnh.

Sai, việc này là quyền hạn của HĐND, not UBND

CSPL:8c-25,k8-26 LNS

b- Yêu cầu Cục Hải quan của Tỉnh giữ lại 50 tỷ đồng tiền thu từ thuế XK-NK tiểu ngạch biên giới phát sinh trên địa bàn để đưa vào dự phòng ngân sách của Tỉnh.

TQ thu: Đúng

CSPL: 36, 48 NĐ 60

Yêu cầu thu: Việc trích đưa vào dự phòng ngân sách chỉ khi sau khi (tăng thu thì trích 30% thưởng), (số tiết kiệm chi được dùng để giảm bội chi) thì mới được dùng số tiền đó để tăng dự phòng ngân sách

CSPL:k1-54 ND 60

c- Chỉ đạo Chi cục Kho bạc nhà nước của Tỉnh phát hành tín phiếu kho bạc để bù đắp thiếu hụt tạm thời ngân sách của Tỉnh.

Về TQ: sai vì đây là TQ của HĐND

CSPL: k3-8 LNS

Về nội dung: cần đảm bảo thuộc ND luật định thì mới dc chi, bởi nguyên tắc là cấp địa phương thì tổng chi ko dc vượt quá tổng thu

CSPL: k3-8; k1-26 ND60

d- Quyết định sử dụng toàn bộ số tăng thu của Tỉnh để thưởng Tết cho các cơ quan, đơn vị thuộc Tỉnh.

Sai, TQ quyết định là của CP, ngoài ra việc trích không quá 30%

CSPL: k1,5-59

Hỏi: Các quyết định trên của Chủ tịch UBND Tỉnh A là đúng hay sai? Vì sao?

HaiChauBK
Xem thêm:  luật ngân sách nhà nước 2015

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.