Tóm tắt- câu hỏi chính sách tiền tệ- ôn thi Ngân Hàng Nhà nước (có đáp án)

Description: Tóm tắt- câu hỏi chính sách tiền tệ- ôn thi Ngân Hàng Nhà nước 2017. Hệ thống những câu hỏi và tóm tắt giúp các bạn ôn thi ngân hàng nhà nước 2017 cho tốt. Update để làm tài liệu ôn thi ngân hàng nhà nước 2019.

Tóm tắt- câu hỏi chính sách tiền tệ- ôn thi Ngân Hàng Nhà nước 2017. Hệ thống những câu hỏi và tóm tắt giúp các bạn ôn thi ngân hàng nhà nước 2017 cho tốt. Update để làm tài liệu ôn thi ngân hàng nhà nước 2019.

Tóm tắt- câu hỏi chính sách tiền tệ-

1. Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là gì? Tại sao khi thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ, NHTW phải thiết lập các mục tiêu trung gian?
Trả lời:
Khái niệm
Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối vơi nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ
Bằng việc sử dụng các công cụ của CSTT, NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng của CSTT như: giá cả, sản lượng, công ăn việc làm... NHTW của tất cả các nước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Các chỉ tiêu này thường chia thành hai loại: mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động.























Câu hỏi chính sách tiền tệ- ôn thi Ngân Hàng Nhà nước 2019

Chính sách tài chính

Câu 1: Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ. Liên hệ với  tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua? 
Câu 2: Phân tích hiện tượng ‘chèn lấn’ các khoản vay của chính phủ đối với đầu tư và xuất khẩu của khu vực tư. Nêu các giải  pháp khắc phục hiện tượng này 
Câu 3: Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính
Câu 4: Những yếu tố tác động trực tiếp đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI)? Phân tích các giải pháp mở rộng thu hút  nhanh vốn FDI tại Việt Nam 14
Câu 5: Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ tham gia vào quản lý hệ thống tài chính bằng các “qui định” (Regulations)? 
Câu 6: Cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ là do các qui định quản lý của hệ thống tài chính quá lỗi thời. Nhận định này 
đúng hay sai? Giải thích?
Câu 7: Theo S.Mishkin (2004): … “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính đối với  các doanh nghiêp”… Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên và nêu ra các giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng  thương mại phát triển bền vững và lành mạnh? 
Câu 8: Phân tích sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát. Liên hệ thực tiển của Việt Nam trong thời gian qua.
Câu 9: Trình bày các quan điểm lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện thông tin bất cân xứng và khuynh hướng tài trợ vốn của hệ thống tài chính Việt Nam trong thời gian tới.
Câu 10: - Phân tích những lợi ích chi phí khi tham gia khu vực đồng tiền chung 
- Nhưng điều kiện cơ bản khi xây dựng khu vực đồng tiền chung 
- Nhận định về điều kiện xây dựng đồng tiền chung khu vực Asean 
Câu 11:- Phân tích lợi ích và chi phí đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 
- Đánh giá khái quát về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta 
- Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Câu 12: bắt buộc: Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế các công cụ tài chính-tiền tệ nào chịu tác động mạnh mẽ nhất. Hãy lấy ví dụ minh họa

Các công cụ của chính sách tiền tệ 

Câu 13: Trình bày xu hướng cải cách chi tiêu công. Thực trạng chi tiêu công tại việt Nam như thế nào? 
Câu 14: Trình bày điểm giống và khác nhau của các nguồn vốn huy động từ quốc tế. Việt Nam cần làm gì để kiểm soát dòng vốn nước ngoài vào 
Câu 15: Có ý kiến cho rằng: "Thị trường vốn là kênh tài trợ vốn chủ yếu cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta" 
Câu 16: Mối quan hệ giữa nguồn tài chính vô hình và nguồn tài chính hữu hình là gì? (phần quan điểm của các nhà kinh tế VN về nguồn tài chính) 
Câu 17: Hiện nay Nhà nước sử dụng mô hình cân đối ngân sách nào? 
Câu 18: Cải cách thuế ở VN ?
Câu 19: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 của thế giới, đặc biệt ở Mỹ, VN đã rút ra được bài học gì? (đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và tài chính như thế nào) (xem thêm slide cô BM) 
Câu 20: Xu hướng cải cách tài chính của VN là đi theo xu hướng cải cách tài chính của thế giới, tuy nhiên bước đi, lộ trình, thời gian khác nhau như thế nào? 
Câu 21: Cần cân nhắc khi vay nợ: hiệu quả của việc sử dụng tiền vay và trả nợ như thế nào? (gợi ý: vấn đề cần cân nhắc: khi vay nợ sẽ xảy ra vấn đề chèn lấn đầu tư và chèn lấn xuất khẩu  giải pháp khắc phục) (xem câu 2 chèn lấn đầu tư)

Câu 22: VN bằng các biện pháp nào để có thể phát triển thị trường tài chính?
Câu 23: Các yếu tố cơ bản của một môi trường đầu tư là gì? (trong câu hỏi này có một yếu tố (còn nhiều yếu tố khác nữa) là: môi trường kinh tế vĩ mô phải ổn định và phát triển vd như: tốc độ tăng trưởng GDP, chính sách lãi suất, tỷ giá kìm chế lạm phát v.v , từng chính sách đó đưa ra các biện pháp cụ thể và phải liên hệ thực tiễn VN)

Câu 24: Vay nợ nước ngoài chính phủ sẽ tăng tiết kiệm, và có làm giảm tiết kiệm trong nước hay không? Việc này có ảnh hưởng đến chính sách tỷ giá và điều hành tỷ giá như thế nào? Ngoài ra việc vay nợ nước ngoài sẽ làm tăng nợ nước ngoài đối với trong nước, vấn đề này được xử lý như thế nào? 
Câu 25: Phân biệt giữa nợ quốc gia và nợ chính phủ? (Nợ quốc gia gồm nợ chính phủ và nợ doanh nghiệp vay bên ngoài) 54
Câu 26: Bên cạnh những mặt tích cực trong việc thu hút nguồn vốn ODA, còn có những ảnh hưởng gì đến quốc gia đó? (kinh tế, chính trị chẳng hạn) 
Câu 27: Khi phát hành trái phiếu, thì nhà nước cần phải chuẩn bị những yếu tố nào? (kỹ thuật phát hành trái phiếu) 
Câu 28: Những mặt thuận lợi và hạn chế trong việc thu hút vốn FDI tại TP.HCM?
Câu 29: Ở VN, quá trình tái cấu trúc khu vực kinh tế nhà nước có phải là quá trình tư nhân hoá hay không? Nếu không phải thì cổ phần hóa ở Việt Nam và tư nhân hóa ở nuớc ngoài có khác nhau ở chỗ nào?Cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa 
Câu 30: Nghiên cứu quá trình CPH DN ở VN, khi NN chuyển nhượng DNNN từ một sở hữu thành đa sở hữu, VN có xảy ra trường hợp các DN đó thu được tiền chuyển nhượng thấp hơn giá trị thực tế của DN hoặc ngược lại hay không? 
Câu 31: Tại sao nói CPH DNNN là việc thực hiện phân phối lại thu nhập của xã hội, tạo điều kiện cho người thu nhập thấp và nghèo nâng cao thu nhập? 
Câu 32: Thị trường CK nên hình thành trước hoặc sau quá trình CPH thì việc CPH sẽ có hiệu quả? 59
Câu 33: Đấu giá công khai và bán qua đấu thầu khác nhau những điểm nào?

Câu 34: TC công và TCNN giống và khác nhau điểm nào? 
Câu 35: TC công bao gồm những bộ phận nào? 
Câu 36: Đánh giá sự phát triển của HTTC và liên hệ thực tiễn VN? 
Câu 37: Các nhân tố kinh tế nào mà lãi suất chịu ảnh hưởng và chính những nhân tố này ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế? 
Câu 38: Lãi suất biến động có tác động đến cung cầu tín dụng không? 
Câu 39: Liên hệ việc điều hành lãi suất VN năm 2010. Việc áp dụng lãi suất thoả thuận có phải là một bước tiến bộ hay không? 
Câu 40: Các biện pháp nào NHTW sử dụng để can thiệp vào TGHĐ? 
Câu 41: Việc điều chỉnh TGHĐ có những mặt tích cực và tiêu cực như thế nào? Liên hệ việc điều hành tỷ giá năm 2010 ở VN? 
Câu 42: Với môi trường kinh tế vĩ mô ở VN không ổn định: lãi suất tăng cao, giá cả hàng hoá tăng cao…thì sẽ ảnh hưởng đến 
hoạt động của NH ở những khía cạnh và nghiệp vụ nào? Có gây ra căng thẳng TC cho NH không? 72
Câu 43: Nợ chính phủ của Hy Lạp (diễn biến, nguyên nhân, những hậu quả cho nền kinh tế, tầng lớp dân cư, và các nước cho vay, từng bước khắc phục như thế nào?) 
Câu 44: Ở VN có xảy ra khủng hoảng TCTT hay không (nêu rõ biểu hiện ở những mặt nào)? Để ngăn ngừa hay giải quyết khủng hoảng TCTT, nhà nước ta cần phải dùng những biện pháp gì? 
Câu 45: Ở VN có xảy ra khủng hoảng TTCK hay không (nêu rõ biểu hiện ở những mặt nào)? Nêu những biện pháp để ngăn ngừa hoặc giải quyết? 
Câu 46: Ở VN dòng vốn đầu tư ngắn hạn vào TTCK có tháo lui chưa trong trường hợp chính sách chưa ổn định? 
Câu 47: Ở VN tình hình thâm hụt NSNN triền miên, khá lớn, hàng năm từ 5%/GDP, nhưng những năm gần đây đã vượt quá 5%/GDP, với tình hình đó sẽ có nguy cơ xảy ra khủng hoảng NS hay không? 
Câu 48: Nêu các biện pháp để công khai hoá TC và lành mạnh hoá nền TC quốc gia? 
Câu 49: Nghiên cứu cuộc khủng hoảng TC thế giới năm 2008?
Câu 50: Theo quan điểm các nhà kinh tế VN, tại sao tự do hoá TC lại phải kiểm soát chính sách tài khoá? 
Câu 51: Dưới tác động của tự do hoá TC thì cơ cấu thu chi NS sẽ có thay đổi, điều này nó thể hiện như thế nào? 
Câu 52: Những cam kết của VN đối với WTO về lĩnh vực TC? 
Câu 53: Tự do hoá lãi suất ở VN được thực hiện thời gian nào hoặc khoảng thời gian nào?
Câu 54: Các nội dung liên quan đến cải cách NHVN? Và thời điểm nào bắt đầu thực hiện việc cải cách đó? 
Câu 55: Trình bày diễn biến lạm phát ở VN? Trong điều kiện chống lạm phát hiện nay, NHTW sử dụng công cụ và biện pháp nào  để chống lạm phát? 
Câu 56: TGHĐ khi sử dụng nó để chống lạm phát thì biểu hiện như thế nào? 

Câu 57: Khi một quốc gia tiếp cận tốt đối với thị trường TC quốc tế, nó sẽ có những biểu hiện nào? 
Câu 58: Thị trường TC thế giới tác động tích cực và tiêu cực đối với TC của một quốc gia như thế nào? 91
Câu 59: Các hình thức thu hút vốn ODA, FDI? 
Câu 60: Trước tình hình nền TC có nhiều điều kiện chưa hoàn thiện, VN trong quá trình tự do hoá TC cần những giải pháp nào  để thực hiện tự do hoá TC? 
Câu 61: Liên hệ thực tiễn VN về chu chuyển vốn quốc tế đặc biệt là trên tài khoản vãng lai? 94
Câu 62: Xu hướng cải cách thuế ở VN trong những năm tới? Cần hoàn thiện các loại thuế nào? 95

 Câu 63: Trong quản lý nợ công có những rủi ro, những rủi ro nào có thể xảy ra trong quản lý nợ công ở VN? (tiềm lực TC và tiềm 
lực kinh tế rất quan trọng) 96
Câu 64: Cách tính toán thâm hụt NSNN ở VN và thế giới có tương đồng hay không? Trong trường hợp không tương đồng thì  khác nhau ở điểm nào? 96
Câu 65: Tái cấu trúc khu vực kinh tế NN được biểu hiện trên những nội dung nào? 97
Câu 66: Cơ chế TC và quản lý TC trong tập đoàn kinh tế VN? 97
Câu 67: Nếu quá trình CPH và hình thành TTCK được thực hiện song song với nhau thì có tạo thuận lợi cho việc CPH hay không? 98
Câu 68: Trong điều kiện VN lạm phát cao, mục tiêu chống lạm phát hàng đầu, kế đến là tăng trưởng kinh tế, để thực hiện việc  chống lạm phát, NN sử dụng chính sách thắt chặt TC và tiện tệ, việc làm này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến TTCK? Việc thực 
hiện các chính sách nêu trên sẽ có độ trễ của nó, độ trễ của việc thực hiện các chính sách trên sẽ ảnh hưởng như tế nào đến  TTCK? 99
Câu 69: TGHĐ và lãi suất ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát? 99
Câu 70: Những biện pháp can thiệp vào TGHĐ? Trong đó biện pháp cuối cùng là gì (phá giá tiền tệ)? 100
Câu 71: Các biện pháp can thiệp của NN vào TT ngoại hối (NHTW can thiệp như thế nào)? 100
Câu 72: Cải cách khu vực kinh tế nhà nước: thị trường chưng khoán có cần đi trước một bước? 101
Câu 73: Nguyên nhân cổ phần DNNN ở các nước rất nhanh nhưng VN chậm? 101
Câu 74: Nếu NN bán giá thấp hơn giá trị thực của doanh nghiệp. Tiêu cực là gì? 102
Câu 75: Nếu NN bán giá cao hơn giá trị thực của doanh nghiệp. Có lợi là gì? 102
Câu 76: phân tích mối quan hệ lý thuyết kỳ vọng hợp lý và lý thuyết thị trường hiệu quả. Liên hệ lý thuyết thị trường hiệu quả 
với thị trường chứng khoán VN.Lý thuyết Kỳ Vọng 102
Câu 77, Chính sách kích cầu của Chính phủ VN 8 tỷ USD sẽ làm bội chi ngân sách 8%GDP. 103
Các nhà kinh tế e ngại sẽ dẫn đến lạm phát. Các anh chị có đồng ý với quan điểm trên không? giải thích? 103
4
Câu 78: theo các anh, chịTrong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu tạo ra những thời cơ và thách thức gì đối với các doanh 
nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ làm gì để tận dụng thời cơ và khắc phục thách thức để phát triển 105
Câu 79: Anh, chị hãy cho biết: 
- Tự do hóa tài chính là gì? 
- Lợi ích và chi phí của tự do hóa tài chính 
- tiến trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam 
-Giải pháp thúc đẩy tự do hóa tài chính ổn định và bền vững ở Việt Nam 
Câu 80: sử dụng mô hình "k gian tài khóa" phân tích khả năng quản lý nợ công bền vững ở Việt Nam? 111
Câu 81: phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận/yếu tố của hệ thống tài chính? theo anh/chị, ở Việt Nam hiện nay cần tập trung 
củng cố những bộ phận/ yếu tố nào? 113
Câu 82: Cơ chế lan truyền của chính sách tiền tệ. Việc NHNN thắt chặt tín dụng ảnh hưởng đến thị trưởng bất động sản ở VN như thế nào? 114
Câu 83: Hiện tượng too big too fail, liên hệ đến việc NHNN yêu cầu các NHTMCP tăng vốn điều lệ 120
Câu 84: QUan điểm cho rằng" Nếu người chủ biết đầy đủ thông tin của người quản lý thì không thể xảy ra hiện tượng NGười chủ- Người đại diện". Bình luận nhận định trên 120
câu 85: Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2007 là do xuất hiên nhiều công cụ phái sinh. Hãy nhân định vấn đề này 121
câu 86: Những điểm lợi và bất lợi của Chính sách tài khóa trong ngắn hạn 122
câu 87: Đa dạng hóa danh mục đầu tư sẽ giảm thiểu rủi ro nhưng điều này có đúng trong trường hợp nhà đầu tư nhỏ lẻ hay 
không. giải thích và cho ví dụ minh họa 123
Câu 88: Đánh giá CSTK và CSTT nhằm kiềm chế lạm phát 2012 123
Câu 89: Vì sao tự do hóa tài chính cần nâng cao công tác quản ly tài chính? 124
Câu 90: thông tin bất cân xứng là gì? Một ngân hàng TM thường gặp các dạng thông tin bất cân xứng nào? 125
(Tr31 sách)
Câu 91: Trình bày về mối quan hệ giữa Công ty Bảo hiểm và thị trường chứng khoán 125
Câu 92: Phân biệt kiểm tra tài chính theo đầu vào và kiểm tra tài chính theo đầu ra 125
Câu 93: Có quan điểm cho rằng để không có xảy ra khủng hoảng trong tương lai cần hạn chế phát triển mô hình tài chính đa 
năng. Dựa vào lý thuyết danh mục đầu tư hãy bình luận nhận định trên. 126
Câu 94: Giả sử đường cong lãi suất có dạng như hình vẽ. Thị trường tiên liệu điều gì về sự di chuyển lãi suất ngắn hạn trong 
tương lai? Đường cong lãi suất ngụ ý gì về sự tiên liệu của thị trường về tỷ lệ lạm phát trong tương lai? 127
Câu 95: Bộ ba bất khả thi (Thực hiện chính sách tiền tệ độc lập, ổn định chính sách tỷ giá, tự do hóa tài khoản vãng lai)? 127
Câu 96: Chính sách tỷ giá ảnh hưởng đến quá trình giải ngân vốn ODA và FDI ntn? 128
5
Tác động của ODA, FDI tới tỷ giá hối đoái: 128
Câu 97: Các công cụ của nghiệp vụ thị trường mở được vận dụng linh hoạt tại Việt Nam hay chưa? Liên hệ thực tế? 129
Câu 98: Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối như thế nào? Liên hệ VN? 129
Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ 130
Câu 99: Gói kích thích lãi suất ưu đãi 4%, có phải là yếu tố gây nên lạm phát VN k? 132
Câu 100: Tài chính khu vực công và tư trong quan điểm của thế giới (nội dung và các chủ thể)? 133
Câu 102: Hệ thống ngân hàng ở Việt Nam chưa rơi vào căng thẳng tài chính hay đang rơi vào khủng hoảng tài chính? 134
Câu 103: BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG LÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 136
Câu 104: Hãy phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách? 138
Anh/Chị hãy cho biết : Hoạt động tài chính có ảnh hưởng gì đến quá trình phát triển kinh tế và xu thế hội nhập hiện nay ở nước 
ta 142
Câu 105: Hãy bình luận ý kiến sau : Do thị trường tài chính thứ cấp không giúp cho doanh nghiệp tăng thêm một đồng vốn nào 
nên thị trường này kém quan trọng hơn thị trường sơ cấp 142
Câu 106: Trong điều kiện lạm phát cao, để kiềm chế lạm phát thì Nhà nước sử dụng các chính sách thắt chặt chính sách tài chính 
và thắt chặt chính sách tiền tệ. Vậy khi sử dụng chính sách thắt chặt tài chính, tiền tệ như vậy nó sẽ có ảnh hưởng tới hoạt động 
của thị trường chứng khoán như thế nào? Nếu như thực hiện có hiệu quả trong vấn đề chống lạm phát thông qua chính sách 
tài chính và chính sách tiền tệ thì tác dụng tích cực và tiêu cực của nó đối với thị trường chứng khoán được thể hiện như thế 
nào? Liên hệ với thực tế ở Việt Nam hiện nay? 143
Câu 107: Phân biệt thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Mối quan hệ giữa 2 TT này 144
Câu 108: Chính sách tiền tệ tác động như thế nào đến thị trường tài chính trong và ngoài nước? 145
Câu 109: Nguyên nhân Lạm phát ở VN 147
TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI LTTCTT
Câu 1: Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ. 
Liên hệ với tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua?
1. Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng, mỗi chính sách có 
mục tiêu riêng, nhưng đều cùng theo đuổi mục tiêu chung là tăng trưởng kinh tế bền vững và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nội dung cơ bản của CSTK là kiểm soát thu chi ngân sách do những khoản thu chi này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, lạm 
phát và nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô khác. Vì thế, CSTK được coi là một trong những chính sách quan trọng đối với việc ổn định và 
thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, một CSTK vững mạnh sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm cơ sở để các doanh nghiệp đưa ra 
các quyết định đầu tư lớn. Trong mối quan hệ với giá cả, CSTK là một trong những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một sự nới 
lỏng CSTK đều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúc đẩy tăng tổng cầu và tài trợ thâm hụt.
CSTT là công cụ của NHTW để điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng, kết quả là chi phối dòng chu chuyển tiền và 
khối lượng tiền để đạt mục tiêu chính sách đề ra. Một CSTT nới lỏng sẽ làm tăng cung tiền, giảm lãi suất, qua đó thúc đẩy tăng 
tổng cầu và gây áp lực lạm phát nếu cung tiền tăng quá mức so với sản lượng tiềm năng.
CSTK tác động đến CSTT trước hết qua kênh tài trợ thâm hụt ngân sách: Nếu thâm hụt ngân sách được tài trợ từ vay nước ngoài 
sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, nếu tài trợ bằng cách vay từ NHTW thì sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng và mặt bằng giá 
cả, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách vay từ các NHTM thì nguồn vốn cho vay các khu vực kinh tế ngoài quốc 
6
doanh sẽ giảm, hạn chế năng lực đầu tư của các khu vực kinh tế này và ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, 
CSTK còn ảnh hưởng đến dòng vốn quốc tế và khả năng của NHTW trong việc kiểm soát luồng ngoại tệ, nếu chính sách thu chi 
ngân sách không hợp lý thì sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả phân bổ nguồn lực và làm tăng rủi ro liên quan đến dòng vốn quốc 
tế.
CSTT tác động đến CSTK tùy theo mức độ điều chỉnh các công cụ CSTT, một CSTT thắt chặt sẽ làm giảm đầu tư, khả năng thu 
thuế và nguồn thu ngân sách, một sự giảm giá nội tệ sẽ làm gia tăng khoản nợ Chính phủ bằng ngoại tệ qui đổi, nếu NHTW điều 
chỉnh tăng lãi suất thì giá trái phiếu Chính phủ sẽ giảm và ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngân sách.
Các khoản thu chi của Chính phủ được phản ánh rõ qua các giao dịch trên tài khoản kho bạc mở tại NHTW hoặc các NHTM, tiền 
gửi kho bạc tăng cao sẽ làm giảm nguồn vốn khả dụng của các NHTM, qua đó làm tăng lãi suất liên ngân hàng. Tiền gửi của 
Chính phủ tại NHTW chiếm tỉ trọng lớn trong tiền cơ bản, nên cũng là yếu tố quan trọng làm thay đổi tổng phương tiện thanh 
toán trong nền kinh tế, việc chuyển tiền hai chiều trên tài khoản của Chính phủ tại NHTW sẽ gây biến động đến tiền cơ bản. Đây 
là những yếu tố gây áp lực đến việc kiểm soát cung tiền và thực thi CSTT, việc kiểm soát cung tiền và lãi suất sẽ khó khăn hơn 
nếu một phần tiền gửi kho bạc được gửi tại các NHTM.
Để hạn chế những tác động bất lợi giữa CSTK và CSTT, cả hai chính sách này phải nhất quán về mặt mục tiêu, phải tạo ra sự 
đồng bộ và bổ sung cho nhau trong quá trình thực thi. Khi bù đắp thâm hụt ngân sách, Bộ Tài chính có thể phát hành trái phiếu 
Chính phủ và NHTW mua vào, tạo thêm công cụ để điều tiết thị trường tiền tệ. Trong quá trình thực thi CSTK, việc tài trợ thâm 
hụt và các khoản thu chi lớn của Chính phủ phải có kế hoạch và được thông báo trước cho NHTW, giúp NHTW dự báo được 
diễn biến cung tiền để kịp thời điều chỉnh theo mục tiêu đề ra và đảm bảo hiệu quả của CSTT.
Mối quan hệ giữa CSTT và CSTK cũng được chứng minh qua mô hình IS-LM. Theo mô hình này, tăng chi tiêu của Chính phủ có 
tác động làm tăng cung tiền, làm giảm lãi suất trên thị trường tiền tệ. Ngược lại, tăng thu thuế có tác động làm tăng lãi suất vì khi 
đó cung tiền giảm. Mô hình IS-LM giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh CSTT và CSTK, để có tác động thích hợp lên 
tổng cầu và lãi suất trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, mô hình Timbergen của nhà kinh tế học cùng tên người Hà Lan có thể giúp 
các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô tìm kiếm được sự phối hợp hiệu quả giữa CSTT và CSTK.
2. Thực trạng phối hợp CSTT và CSTK tại Việt Nam
Tại Việt Nam, việc phối hợp CSTT và CSTK đã có những chuyển biến tích cực, nhất là trong việc chỉ đạo điều hành giữa Ngân 
hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Bộ Tài chính, có sự phối hợp trong việc phát hành tín phiếu kho bạc, xác định lãi suất phát 
hành trái phiếu Chính phủ, Luật NHNN cũng đã qui định là không phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách, tiền gửi kho bạc 
phải gửi tại NHNN. Hàng năm, Quốc hội thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu và khống chế mức thâm hụt ngân sách 
trong tỉ lệ nhất định, việc chỉ đạo điều hành của Chính phủ cũng đảm bảo sự nhất quán giữa mục tiêu CSTT và CSTK.
Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, còn thiếu sự phối hợp trong quá trình điều hành hai chính sách này, chưa có sự nhất quán 
giữa việc xác định lãi suất trái phiếu Chính phủ với chính sách lãi suất của NHNN. Bên cạnh đó, NHNN cũng không nắm được 
các khoản thu chi lớn của ngân sách nhà nước, nên bị động trong việc kiểm soát cung tiền trước tác động của các dòng tiền trong 
khu vực Chính phủ.
Từ cuối năm 2007, kinh tế thế giới biến động mạnh và bước vào thời kỳ suy thoái, gây ra những bất ổn khó lường đối với nền 
kinh tế Việt Nam, thị trường tài chính trong nước chao đảo mạnh, đe dọa tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, lãi suất và tỉ 
giá biến động mạnh, lạm phát liên tục leo thang. Để ổn định thị trường, NHNN, Bộ Tài chính và các bộ, ngành đã có nhiều biện 
pháp can thiệp quyết liệt, kịp thời và có hiệu quả, từng bước giải quyết các vấn đề phát sinh.
Từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để chống lạm phát, nhưng CSTK vẫn duy trì 
mức bội chi như thường lệ, nỗ lực chống lạm phát vì thế không đạt được hiệu quả như mong đợi, mặc dù nguy cơ khủng hoảng bị 
đẩy lùi. Nói đúng hơn, trong khi CSTT thắt chặt thì CSTK lại nới lỏng, khiến áp lực lạm phát và lãi suất tăng. Khi đó, CSTK mới 
bắt đầu điều chỉnh theo hướng giảm tỉ lệ thâm hụt xuống dưới 3% GDP, cắt giảm 10% chi thường xuyên, v.v.
Từ tháng 10/2008 đến nay, Chính phủ chủ trương nới lỏng CSTT và CSTK để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau khủng hoảng. Đối với 
CSTT, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đồng thời tăng cường nguồn vốn huy động, 
đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng trong nền kinh tế. Đối với CSTK, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 
11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bao gồm 5 nhóm giải pháp 
cơ bản, trong đó kích cầu kinh tế là một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh khoản 36.000 tỉ đồng trái phiếu Chính 
phủ và hàng loạt chính sách an sinh xã hội và phát triển hạ tầng nông thôn, miễn giảm một số loại thuế, hoãn thu hồi vốn đầu tư 
xây dựng cơ bản ứng trước 2009, phát hành trái phiếu Chính phủ bổ sung, …. Chính phủ đã dùng 1 tỉ USD từ dự trữ ngoại hối 
quốc gia để hỗ trợ giảm 4% lãi suất (thời hạn 8 tháng) và 20.000 tỉ đồng (thời hạn 24 tháng).
Về vấn đề kích cầu, NHNN đã thực hiện đúng nguyên tắc với nhiều giải pháp thích hợp nhằm hướng các khoản vay đúng đối 
tượng, kiểm soát chặt chẽ việc cho vay hỗ trợ lãi suất và hạn chế rủi ro hệ thống. Nhờ đó, các tổ chức, cá nhân đã tiếp cận được 
vốn ngân hàng với chi phí thấp, giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh và việc làm, từng bước khắc phục khó 
khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Tính đến ngày 26/11/2009, tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất là 415.886,92 
tỉ đồng.
7
Tuy nhiên, với mức thâm hụt ngân sách khá cao để nới lỏng CSTT và CSTK, nguồn vốn trong nền kinh tế dường như đã bị cạn 
kiệt, có thể ảnh hưởng đến giá trị VND và gây áp lực tăng lãi suất, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất huy động đến sát trần qui 
định 10%, nhất là từ cuối tháng 10/2009, buộc NHNN phải quyết định tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%, bắt đầu có hiệu lực từ 
tháng 12/2009.
Thực trạng CSTT và CSTK thời gian qua cho thấy, mặc dù hai chính sách này đã được tận dụng tối đa và phối hợp khá chặt chẽ, 
nhưng giới hạn chính sách đang cản trở những tác động tích cực và làm nảy sinh nhiều hệ lụy cho thời gian tới. Điều này cũng do 
CSTT linh hoạt hơn so với CSTK, việc thay đổi lượng tiền cung ứng sẽ làm thay đổi mức lãi suất và NHTW có thể tác động đến 
đầu tư, xuất khẩu ròng và tiêu dùng trong ngắn hạn. Trong đó, NHNN có thể sử dụng CSTT để điều chỉnh mức lạm phát, gây tác 
động lên năng suất lao động và tăng trưởng GDP tiềm năng trong dài hạn. Tuy nhiên, rất khó thay đổi CSTK do Chính phủ lập kế 
hoạch chi tiêu, thuế và thâm hụt ngân sách, kế hoạch ngân sách hàng năm do Quốc hội thông qua, điều này tạo ra sự lệch pha so 
với CSTT.
Trong điều kiện Việt Nam, áp lực đối với ngân sách nhà nước tồn tại thường xuyên và có xu hướng tăng, cơ cấu và hiệu quả cũng 
như khả năng kiểm soát chi tiêu ngân sách nhà nước thể hiện các dấu hiệu thiếu bền vững do các khoản chi tiêu ngân sách không 
tạo ra nguồn thu trong tương lai, thậm chí gây sức ép cho chuỗi bội chi mới. Gói kích cầu trong thời gian qua đã có tác dụng loại 
trừ nguy cơ đổ vỡ dây chuyền trong khu vực doanh nghiệp và nền kinh tế không bị rơi vào suy thoái trầm trọng, nhưng xu hướng 
mở rộng chi tiêu công và các biện pháp nới lỏng kiểm soát tiền tệ kéo dài đang gặp phải cản trở lớn là hiệu quả đầu tư quá thấp 
với bằng chứng là chỉ số ICOR năm 2008 đã lên con số 8. Trên thực tế, nền kinh tế đứng trước nguy cơ của vòng xoáy lạm phát, 
nếu cứ tiếp tục kích cầu và thực hiện gói kích cầu thứ hai mà không có giải pháp dài hạn để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu 
tư, đảm bảo nguồn trả nợ trong tương lai.
3. Một số giải pháp và kiến nghị
CSTT và CSTK là hai bộ phận trọng yếu trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô, hai chính sách này có mối quan hệ chặt chẽ 
đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình hoạch định và thực thi. Để đảm bảo hiệu quả phối hợp giữa CSTT và CSTK, cần 
có sự thống nhất trong các chính sách nhằm đảm bảo mục tiêu chung, đồng thời cân nhắc tác động trái chiều của các chính sách, 
tăng cường trao đổi thông tin giữa Bộ Tài chính và NHNN để làm cơ sở xây dựng và thực thi các biện pháp chính sách một cách 
có hiệu quả và kịp thời. Đối với các gói kích cầu, cần tăng cường kiểm soát chất lượng các khoản tín dụng hỗ trợ lãi suất, kiểm 
soát tín dụng cho các mục tiêu kinh doanh chứng khoán và bất động sản.
Cải cách cơ chế cấp phát ngân sách và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu, có biện pháp giảm thất thoát trong chi tiêu đối với 
các dự án và công trình lớn nhưng không hiệu quả, đảm bảo yêu cầu kiểm soát chi tiêu hiệu quả hơn là chỉ nhằm mục tiêu kiểm 
soát việc chấp hành chế độ. Có biện pháp quyết liệt về cải cách doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), nâng 
cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn ngân sách nhà nước. Rà soát lại hệ thống DNNN, xử lý kiên quyết các doanh 
nghiệp làm ăn thua lỗ. Cần tính đến ảnh hưởng tiêu cực của chính sách vay nợ nước ngoài liên quan đến tỉ giá, hoạt động xuất 
khẩu và cán cân thương mại, không để ảnh hưởng xấu đến cán cân vãng lai và cán cân thanh toán
Câu 2: Phân tích hiện tượng ‘chèn lấn’ các khoản vay của chính phủ đối với đầu tư và xuất khẩu của khu vực tư. Nêu các 
giải pháp khắc phục hiện tượng này.
Trong kinh tế học, hiện tượng chèn lấn (đầu tư) xảy ra khi chính phủ mở rộng việc vay mượn để tài trợ chi tiêu hoặc để bù đắp 
việc cắt giảm thuế vượt doanh thu (tức là có hiện tượng thâm hụt chi tiêu), dẫn tới mức lãi suất cao hơn, và kết quả là làm đầu tư 
ở khu vực tư nhân bị sụt giảm.
Để vay được tiền chính phủ phải đa dạng hoá các hình thức vay như phát hành trái phiếu, tín phiếu, công trái Đồng thời phải 
thực hiện nhiều biện pháp để tăng mức độ hấp dẫn người cho vay như tăng lãi suất, mở rộng ưu đãi về thuế thu nhập ngoài ra 
còn phải triển khai các biện pháp khác, kể cả tuyên truyền, vận động để huy động tối đa nguồn tiền trong dân cư nhằm hoàn 
thành kế hoạch vay đã định.
Tuy nhiên, tổng lượng tiền mà nhân dân và các đơn vị có thể có để cho chính phủ vay bị giới hạn trong tổng lượng tiết kiệm của 
xã hội. Nếu chính phủ huy động được nhiều thì đương nhiên phần tiền còn lại dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở 
khu vực ngoài quốc doanh sẽ giảm đi.
Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với lượng tiền huy động được, nhưng xã hội hay trực tiếp hơn là khu 
vực các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Nếu các 
biện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và của ngân hàng càng có lãi suất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các 
khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh.
Do vậy, vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanh 
của nền kinh tế. Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủ thông qua con đường phát hành trái phiếu, tín phiếu bị chính bản 
thân giải pháp này cản trở ngay từ nguồn gốc.
Chính vì thế, trong thời kỳ kinh tế đình đốn, hầu như các nước đều tránh các biện pháp có nguy cơ làm giảm khẳ năng tự đầu tư 
của các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốc doanh và các tầng lớp dân cư. Biện pháp tài trợ thâm 
hụt ngân sách này chỉ nên thực hiện trong trường hợp nền kinh tế là cường thịnh. Nếu ta tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách 
8
phát hành trái phiếu, thì trái phiếu sẽ tạo ra cho công dân trách nhiệm nộp thêm thuế trong tương lai để trang trải lãi về các trái 
phiếu đấy.
Về nguyên tắc, tháo lui đầu tư, có thể tránh được nếu thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng phát hành tiền, nhưng biện pháp này 
lại nhanh chóng dẫn tới lạm phát tăng cao.
- Thoái lui cũng có thể xảy ra do chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi. Vay mượn chính phủ dẫn tới lãi suất cao làm các dòng vốn nước 
ngoài chảy vào trong nước (tức là tiền nước ngoài tập trung vào những tài sản phát hành bằng nội tệ). Dưới chế độ tỷ giá hối 
đoái thả nổi, việc lưu chuyển dòng vốn này dẫn tới giá đồng nội tệ tăng cao (hay tỷ giá hối đoái giảm) và vì vậy sẽ gây ra thoái 
lui xuất khẩu (hàng nội địa trở nên đắt đỏ hơn đối với người sử dụng đồng tiền nước ngoài). Tác động này ngược chiều với tác 
động kích cầu của thâm hụt ngân sách, nhưng không có tác động ngược chiều rõ ràng nào tới sự tăng trưởng kinh tế trong dài 
hạn.
- Thoái lui trầm trọng nhất khi một nền kinh tế đã gần đạt tới mức toàn dụng. Lúc đó, chính sách mở rộng bằng thâm hụt ngân 
sách của chính phủ chỉ dẫn tới giá cả tăng, và cầu tiền tăng. Tác động này lại làm lãi suất tăng cao hơn và làm giảm mong muốn 
đầu tư. Ở mức toàn dụng, các doanh nghiệp không còn thị trường vì vậy tác động tăng tốc là không có. Trực tiếp hơn, nếu nền 
kinh tế toàn dụng, bất cứ sự gia tăng nào của chi tiêu chính phủ chỉ làm các nguồn lực rời khỏi khu vực tư nhân mà thôi. 
Việc tài trợ chi tiêu có thể được thực hiện thông qua phát hành TP (vay nợ) trong nước. Biện pháp tài trợ này có thể chia thành 
vay nợ từ công chúng hoặc từ hệ thống các NHTM.
Vay nợ từ công chúng huy động với lãi xuất cao còn làm tăng các khoản trả lãi thêm hàng chục ngàn tỷ đồng/ năm trong tương 
lai và làm trầm trọng thêm vấn đề thâm hụt ngân sách.
Nếu chính phủ vay nợ hệ thống ngân hàng thương sẽ gây sức ép đối với dự trữ của các NHTM và các NHTM sẽ đòi hỏi trợ giúp 
về khả năng thanh khoản từ NHNN. Nếu những đòi hỏi này được NHNN đáp ứng, cơ sở tiền sẽ tăng làm lạm phát sẽ quay trở lại. 
Tuy nhiên, nếu NHNN không đáp ứng những đòi hỏi về tính thanh khoản này, các NHTM buộc phải giảm các nguồn tín dụng cho 
khu vực DNTN và lao vào một cuộc cạnh tranh lãi suất huy động. Trong kinh tế học, hiện tượng này được biết đến với cái tên lấn 
át đầu tư – tức là chi tiêu CP cuối cùng sẽ lấn át đầu tư của khu vự tư nhân. Việc vay nợ sẽ đẩy lãi suất lên cao và gây khó khăn 
thêm cho các DNTN và không thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế.
Vấn đề của Việt Nam khi tác nhân chính đóng góp làm tăng tổng cầu chính là chi tiêu ngân sách của Chính phủ. Để tăng trưởng 
kinh tế thì cách dễ dàng nhất là tăng chi tiêu chính phủ. Tình trạng thâm hụt ngân sách vẫn cứ tiếp diễn năm này qua tháng khác 
là một minh chứng cho vấn đề này. Khi chi tiêu chính phủ tăng lên sẽ đóng góp chủ động làm tăng tổng cầu, từ đó cũng làm tăng 
cầu tiền tệ. Cầu tiền tệ tăng lên, tất yếu tạo áp lực tăng lãi suất, trừ khi cung tiền cũng tăng theo. Khi đó, khu vực tư nhân buộc 
phải cắt giảm bớt đầu tư và nhập siêu cũng phải tăng lên để phản ứng bị động trước sự gia tăng của tổng cầu do chi tiêu ngân 
sách chèn lấn. Do bị chen lấn tín dụng như vậy nên doanh nghiệp tư nhân luôn bị đói vốn và phải chấp nhận vay vốn với lãi suất 
quá cao, có thời điểm lên tới 20 – 22%. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng phá sản hàng loạt của các 
doanh nghiệp tư nhân. 
Như vậy khu vực tư nhân phải chịu hy sinh cho sự bành trướng của chính sách tài khoá và nền kinh tế phải gánh chịu những hậu 
quả của tình trạng thâm hụt kép từ cán cân ngân sách và cán cân thương mại. Không những chỉ có áp lực về lạm phát và lãi suất 
mà hệ quả của nó còn là các căng thẳng ngoại tệ, áp lực tỷ giá và sự suy giảm dự trữ ngoại hối quốc gia.
Giải pháp:
Để khắc phục chèn lấn, yêu cầu các dự án đầu tư của Chính phủ phải có hiệu quả để thu hút lại sự đầu tư của khu vực tư.
Chính phủ và nhất là các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả phải cắt giảm mạnh đầu tư của mình, phân bổ vốn đầu tư công sao 
cho hợp lý (ví dụ, theo hướng tăng cường phát triển nguồn nhân lực bằng cách đầu tư vào y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học), 
giám sát tốt quá trình đầu tư, nâng cao hiệu quả quản lý và vận hành khối DNNN. Theo hướng này thì tổng cầu nhanh chóng 
giảm (vì phía tổng cung đang có xu hướng giảm) và kết quả mong đợi là lạm phát sẽ giảm và lãi suất cũng giảm theo. Khi đó khu 
vực tư nhân tiếp tục đầu tư các dự án có năng suất của họ và khởi đầu lại một chu kỳ kinh tế mới. Chỉ có như vậy thì sự đánh đổi 
giữa lạm phát và tăng trưởng mới có thể giảm thiểu.
Tuy nhiên, hiện tượng chèn lấn đầu tư có thể giảm bớt tính nghiêm trọng nếu chính phủ chi tiêu mở rộng thị trường cho các sản 
phẩm ở khu vực tư nhân, và vì thế kích thích đầu tư trở lại (tác động gia tốc kinh tế). Tác động này quan trọng nhất khi các doanh 
nghiệp đang trong tình trạng dư thừa năng lực, tức là nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái kinh tế.
Câu 3: Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính.
Thực hiện tựdo hoá tài chính trong lĩnh lực ngân hàng 
1.4.1.1 Tựdo hoá lãi suất 
Tựdo hoá lãi suất là cơchếlãi suất trong đó có rất ít hoặc không có sựcan thiệp của các cơquan chức năng vào việc hình thành lãi 
suất mà lãi suất được hình thành trên cơsởthịtrường, vận động theo qui luật cung cầu. 
Tựdo hoá lãi suất được hiểu là lãi suất hoàn toàn được điều chỉnh theo yêu cầu của thịtrường. Sựcan thiệp của NHTƯ đối với lãi 
suất thịtrường được điều hành thông qua các công cụgián tiếp nhưlãi suất tái chiết khấu hay tái cấp vốn đểtác động lên cung cầu 
vốn trên thịtrường tiền tệnhằm xác lập mức lãi suất cân bằng. Nhưvậy tựdo hoá lãi suất có thể được hiểu là việc tháo bỏhoàn toàn 
các ràng buộc vềlãi suất trong nền kinh tế, cho phép lãi suất trong nền kinh tế đạt tới điểm cân bằng của nó. Thực chất của tựdo 
9
hoá lãi suất là một quá trình loại bỏcác quy phạm, giới hạn bất hợp lý, loại bỏtối đa các kiểm soát vềlãi suất trong kinh doanh tiền 
tệcủa khu vực trung gian tài chính và thay thếbằng các biện pháp điều tiết lãi suất gián tiếp của NHTƯthông qua các công cụcủa 
chính sách tiền tệ: trong điều hành chính sách lãi suất, NHTƯchỉcông bốcác mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay tái 
chiết khấu hoặc tái cấp vốn của mình đối với các tổchức tín dụng. Các mức lãi suất tiền gửi, cho vay cụthểtheo từng thời kỳ, từng 
đối tượng của các tổchức tín dụng đối với nền kinh tếsẽdo tổchức tín dụng tự ấn định, dựa trên cung cầu vốn và sựcạnh tranh trên 
thịtrường, từ đó hình thành nên mức lãi suất phản ánh đúng nhu cầu thịtrường. Khi muốn điều hành lãi suất kinh doanh của các 
tổchức tín dụng trong nền kinh tế, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệtừng giai đoạn, NHTƯsẽthực hiện thông qua điều 
hành lãi suất tái chiết khấu của mình đốivới các tổchức tín dụng, từ đó tác động đến lãi suất trên thịtrường tiền tệliên ngân hàng và 
cuối cùng sẽtác động đến lãi suất kinh doanh của các tổchức tín dụng. 
Tựdo hóa lãi suất góp phần làm cho các dòng vốn trong xã hội được tựdo lưu chuyển đến bất kỳ đâu, tùy thuộc vào ý muốn của 
nhà đầu tưmà không phải gặp bất cứsựngăn cản phi kinh tếnào. Lãi suất khi đó tự điều chỉnh linh hoạt và nhạy cảm, phản ánh nhu 
cầu đòi hỏi của thịtrường. Nhờcó quá trình tựdo hóa lãi suất mà dòng vốn được lưu chuyển từnơi có lợi nhuận thấp đến nơi có lợi 
nhuận cao, từnơi nhiều rủi ro đến nơi mức rủi ro thấp hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện ổn định kinh tếvĩmô, 
tăng vốn đầu tưphát triển sản xuất, giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếphát triển mạnh và có hiệu quả. 
Lãi suất nếu chưa được tựdo hóa và vẫn bịkiểm soát chặt chẽtrong thời gian dài sẽgây ra những thiệt hại tổng thểcho nền kinh tế. 
Trong trường hợp các ngân hàng buộc phải thực hiện cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thịtrường dưới một sức ép nào đó và 
phải huy động với lãi suất cao thì chênh lệch lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra sẽkhông đảm bảo bù đắp chi phí hoạt động của 
ngân hàng, nhưthếcác tổchức tín dụng sẽkhông phát triển. Mặt khác, khi phải cho vay với lãi suất thấp và huy động vốn với lãi 
suất thấp để đảm bảo đủbù đắp chi phí, lãi suất thấp sẽkhông khuyến khích người dân duy trì nguồn vốn tiết kiệm của mình ởtrong 
nước từ đó dẫn đến kìm hãm sựtăng trưởng các khoản tiết kiệm và giảm hiệu quảcủa đầu tư. 
Khi kiểm soát lãi suất quá chặt chẽ sẽ khuyến khích sựhình thành các công cụtài chính và các trung gian tài chính không chính 
thức phát triển đểcạnh tranh với các công cụtài chính và các trung gian tài chính chính thức bịkiểm soát làm cho quá trình phi 
trung gian tài chính phát triển và sựtrốn tránh các quy chếkiểm soát. 
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình điều hành nền kinh tế, nhiều quốc gia đặt ra mức trần lãi suất cho vay nhằm kiểm soát cảlãi 
suất tiền gửi và lãi suất cho vay nghĩa là không tựdo hóa lãi suất dẫn đến hậu quảthịtrường tài chính không ổn định và không phát 
huy được tính năng động sáng tạo, không ổn định làm cho hiệu quảtrong việc huy động vốn và sửdụng vốn không cao và nhất là 
không khơi dậy được nguồn vốn tiềmnăng của dân cư đầu tưcho sản xuất. Nhà nước điều hành thịtrường song chính sách lại tách 
rời khỏi các thuộc tính của kinh tếthịtrường tất yếu không mang lại hiệu quả. 
Tiến trình tựdo hóa lãi suất ngoài những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh 
tế. Nhưng đứng trước bối cảnh hội nhập, các nước cần phải tựdo hóa lãi suất, vấn đềlà các nước nên chọn cách đi nào cho phù hợp 
với nền kinh tếthịtrường hiện nay và phải làm thếnào đểcó thểtận dụng và phát huy tối đa những mặt tích cực mà tựdo hóa lãi suất 
mang lại cũng nhưhạn chếđược tối đa những tác động xấu của cơchếnày. Tựdo hoá lãi suất được coi là hạt nhân, là vấn đềcốt lõi 
của tựdo hoá tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, bởi nhờnó mà làm cho các luồng tài chính vận động một cách thông suốt. Tự do 
hoá lãi suất là một xu thế khách quan trong quá trình hội nhập. Mức độtựdo hoá lãi suất càng sâu rộng bao nhiêu thì hội nhập quốc 
tếvềngân hàng càng nhanh chóng bấy nhiêu. 
Để tự do hoá lãi suất, cần có những điều kiện sau: 
Một là,hành lang pháp lý cho hoạt động kinh tếtài chính đã tương đối đồng bộvà hoàn chỉnh. 
Hai là,thịtrường tài chính gồm thịtrường tiền tệvà TTCK đã ra đời và vận hành hiệu quả. 
Ba là,các tổchức kinh tế đều đảm bảo khảnăng sửdụng vốn triệt đểvà có hiệu quả. 
Bốn là,môi trường kinh tếvĩmô đã ổn định và tương đối chắc chắn. 
Năm là,hệthống ngân hàng ổn định và hoạt động hữu hiệu. 
Sáu là,các ngưồn lực trong nước nhưvốn, tài nguyên, lao động … đã được phân phối và sửdụng tương đối hợp lý.
1.4.1.2 Tựdo hoá cơchếtín dụng 
Tựdo hoá cơchếtín dụng là tôn trọng các điều kiện khách quan trong hoạt động tín dụng. Tựdo hóa tín dụng đòi hỏi phải xóa 
bỏcác hạn chế, định hướng hay ràng buộc vềsốlượng trong quá trình cung cấp cũng nhưphân phối tín dụng nhằm nâng cao hiệu 
quảcủa hoạt động tín dụng cho mọi thành phần kinh tế. 
Một biểu hiện cụthểcủa việc định hướng tín dụng là Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại quốc doanh mởcác 
tài khoản cho vay theo chỉ định của Chính phủhay dùng NSNN bao cấp cho một sốhoạt động kinh tế, xã hội đã không tính đến 
hiệu quảsửdụng đồng vốn.
Nội dung tựdo hóa hoạt động tín dụng không có nghĩa là hoàn toàn hạthấp vai trò của Chính phủ. Ởcác nước đang phát triển, 
đểduy trì tỉlệcần thiết quan trọng trong tín dụng cho nền kinh tếtheo sựchỉ định của Chính phủ, Chính phủcó thểcan thiệp vào 
cơcấu đầu tưcũng nhưbảo đảm sựlành mạnh của các trung gian tài chính. Tuy nhiên tựdo hóa tín dụng, thừa nhận vai trò chính, 
song không đồng nhất với sựcan thiệp quá sâu của Chính phủvì hậu quảcủa nó có thểdẫn đến thịtrường tài chính bịbóp méo, hiệu 
quảsửdụng các nguồn lực tài chính không cao, thậm chí lãng phí. 
Như đã phân tích trên, tựdo hóa tín dụng không có nghĩa là Chính phủhoàn toàn không còn vai trò đối với việc sửdụng các nguồn 
10
lực tài chính, đểmặc cho thịtrường tựđiều chỉnh. Nếu vậy sẽdẫn đến đầu tưsai lệch, các nguồn vốn được tập trung nhiều vào lĩnh 
vực đang sinh lợi, còn các lĩnh vực khác thì thiếu vốn do khảnăng sinh lời thấp hay thiếu hấp dẫn thu hồi vốn chậm, nhất là những 
ngành đóng vai trò quan trọng đối với sựphát triển của nền kinh tế, liên quan đến lợi ích cho quốc kếdân sinh, lợi ích công cộng. 
Tựdo hóa các hoạt động tín dụng không có nghĩa là hoàn toàn tựdo mà cần thiết phải có vai trò của Chính phủ. Tuy nhiên vai trò 
đó chỉthểhiện ởnhững dựán lớn theo định hướng phát triển kinh tếcủa quốc gia. Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào lĩnh 
vực phân phối tín dụng nhằm tạo điều kiện đểcác dòng vốn tìm đến nơi cần, theo nguyên tắc chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với 
phần vốn nhận được, bảo đảm khảnăng thu hồi và có lãi. 
Nội dung của tựdo hoá cơchếtín dụng: Một là, bãi bỏhoàn toàn việc ấn định hạn mức tín dụng và các tỷlệcó liên quan. Hai là, xoá 
bỏbao cấp trong hoạt động tín dụng. Ba là, mởrộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế đểtận dụng các nguồn lực đang có và tiềm 
ẩn trong nền kinh tế. Bốn là, xoá bỏnhững ràng buộc của hệthống ngân hàng trong hoạt động tín dụng, nâng cao tính tựchịu trách 
nhiệm và tính tựchủ, tạo môi trường thông thoáng cho việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. 
1.4.1.3 Tựdo hoá tỷgiá hối đoái 
Tựdo hoá tỷgiá hối đoái là đểcho diễn biến tỷgiá hối đoái trên thịtrường biến động dưới tác động của quan hệcung cầu là chủyếu, 
cơquan quản l ý Nhà nước tránh sựcan thiệp trực tiếp và thái quá. Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra rất nhanh chóng. 
Việc giao lưu, thông thương hàng hoá giữa các nước ngày một gia tăng. Tỷgiá hối đoái là một trong những nhân tố ảnh hưởng 
mạnh mẽvà trực tiếp đến hoạt động đó. Vì vậy, yêu cầu các quốc gia dần phải từbỏcách kiểm soát quá chặt chẽtỷgiá, đưa đồng bản 
tệcó khảnăng chuyển đổi cao. Khi Chính phủvà NHTƯtừbỏviệc can thiệp của mình và đểcho tỷgiá được tựdo xác định trên 
thịtrường thì nước đó đang theo đuổi chính sách tỷgiá tựdo. Vì vậy, tựdo hoá tỷgiá là một quá trình tiến tới cho phép tỷgiá được 
tựxác định trên thịtrường. 
Tựdo hoá tỷgiá hối đoái bao gồm những nội dung chính sau: Thứnhất, bãi bỏtỷgiá cố định với việc công bốtỷgiá chính thức. 
Thứhai, nới lỏng biên độgiao dịch và tiến tới xoá bỏbiên độgiao dịch tỷgiá trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Thứba,đểcho 
tỷgiá biến động theo tương quan cung cầu trên thịtrường và chỉcan thiệp có giới hạn khi xét thấy cần thiết. 
Tựdo hoá tỷgiá cũng tiềm ẩn trong đó những bất ổn nhất là đối với những nền kinh tế đang phát triển. Chẳng hạn nhưtỷgiá cao 
ảnh hưởng tới việc nhập khẩu, tỷgiá thấp ảnh hưởng tới xuất khẩu … bên cạnh đó còn các vấn đềkinh tếkhác sẽcó những diễn biến 
xấu khi tỷgiá thay đổi quá đột ngột nhưtỷlệlạm phát, lượng cung cầu ngoại tệ. Vì vậy, không một cơchếcủa quốc gia nào vềtỷgiá 
lại thảnổi hoàn toàn, vì nhưvậy, vai trò điều tiết vĩmô của Nhà nước sẽbịtriệt tiêu. Chính vì vậy, hầu hết các nước áp dụng 
cơchếtựdo hoá tài chính, thì tỷgiá cũng sẽ được thảnổi nhưng có quản lý, nghĩa là không thảnổi hoàn toàn. 
Đểthực hiện tựdo hoá tỷgiá hối đoái phải có một số điều kiện nhất định: Một là,thịtrường hối đoái phải được hình thành trước và 
hoạt động trôi chảy. Hai là,lưu thông tiền tệtrong nước tương đối ổn định và được kiểm soát tốt. Ba là,hoạt động kinh tếtài chính 
đối ngoại phải tương đối ổn định. Bốn là,dựtrữngoại hối phải đủlớn, cán cân vãng lai thặng dưvà tương đối ổn định. Năm 
là,hệthống ngân hàng trong nền kinh tếhoạt động hiệu quảvà ổn định.
1.4.1.4 Tựdo hoá quản lý ngoại hối và các luồng vốn quốc tế
Tự do hoá quản lý ngoại hối và các luồng vốn quốc tế đó là làm cho các nguồn vốn nước ngoài và trong nước tựdo luân chuyển, 
tạo sựhấp thụcó hiệu quảcác nguồn vốn từbên ngoài đểphát triển kinh tế, bên cạnh đó mởrộng giao lưu kinh tếthương mại với các 
nước trên thếgiới, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. 
Nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế không chỉhuy động từnội bộmỗi quốc gia mà còn từbên ngoài từcác mối quan hệsong 
phương và đa phương với các nước khác. Quan hệngoại thương là cần thiết và tất yếu khách quan nhất là trong bối cảnh hiện nay 
các quốc gia đều có xu hướng tham gia vào các khối tựdo thương mại và mậu dịch thì tựdo hoá hoạt động ngoại hối sẽgiúp cho 
quan hệthương mại diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn. 
Với xu thếvận động và phát triển của nền kinh tếthếgiới, chúng ta đang từng bước hội nhập nền kinh tếthếgiới, theo tinh thần 
Nghịquyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứVIII [49]: “xây dựng một nền kinh tếmở”, “ đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tếkhu 
vực và thếgiới”. Không nước nào đứng một mình có thểphát triển một cách thuận lợi được trong thời đại ngày nay. Vấn đề đặt ra 
là ởchỗ: “làm sao đểhoà nhập nhưng không hoà tan”. 
Xu thếchung của các quốc gia trên thếgiới đang mởcửa biên giới, bãi bỏcác rào cản mậu dịch và nới lỏng dần các biện pháp kiểm 
soát tài chính đểhội nhập toàn cầu nếu không muốn tụt hậu, đứng bên lềcuộc chạy đua tăng trưởng kinh tế. Trao đổi giao lưu kinh 
tếhàng hoá đang ngày càng được mởrộng, thông thoáng và tất yếu là cùng với nó dòng vốn cũng lưu chuyển mạnh mẽhơn ởphạm 
vi quốc gia và quốc tế. 
Với vịtrí quan trọng của các nguồn lực tài chính, lĩnh vực ngân hàng giữvai trò huyết mạch của nền kinh tế, thông qua các chính 
sách và công cụ để điều hành nền kinh tế. Đểhội nhập thành công, chúng ta cần tạo ra hành lang pháp lý trên cơsởtôn trọng các 
qui luật kinh tếkhách quan của thịtrường, tạo điều kiện cho các chủthểtrên thịtrường có thểtựdo quyết định việc hình thành và 
sửdụng các nguồn lực tài chính theo tín hiệu thịtrường
Tham khảo
Ngày nay trong sự phát triển và hội nhập nhanh chóng nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới đã cho thấy sự tăng trưởng kinh 
tế nhanh hay chậm hoặc suy thoái đều phụ thuộc rất nhiều vào chính sách cũng như cơ cấu của hệ thống tài chính mỗi quốc gia. 
Xu hướng được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn thực hiện là tiến hành tự do hóa tài chính.
11
Việc tự do hóa tài chính bao gồm các nội dung cơ bản như xóa bỏ các hạn chế, định hướng hay ràng buộc về số lượng trong quá 
trình cấp và phân phối tín dụng, chấm dứt các kênh cấp vốn ưu đãi, các định chế tài chính có quyền tự do xác định các lãi suất 
tiền gửi, cho vay và tự do sử dụng công cụ lãi suất, mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động trung gian tài chính, chấm dứt 
những phân biệt đối xử về pháp lý giữa các lọai hình sở hữu và hoạt động khác nhau và tự do hóa các luồng vốn quốc tế. Khi tự 
do hóa tài chính các dòng vốn được tự do lưu chuyển từ nơi có hiệu suất sinh lợi thấp sang nơi có hiệu suất sinh lợi cao mà 
không bị ngăn cản bởi các qui định phi kinh tế.
Trong môi trường quốc tế hóa một cách mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, VN cũng không thể đứng ngoài tiến trình toàn cầu 
hóa, để hội nhập vào xu hướng chung này VN cần từng bước thực hiện tự do hóa trên nhiều phương diện trong đó tự do hóa tài 
chính có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển của kinh tế đất nước.
1. Hệ thống ngân hàng VN trong tiến trình thực hiện chính sách tự do hóa tài chính
Hệ thống ngân hàng VN là trung tâm tài chính cốt lõi của nền kinh tế quốc gia, nó là trọng tâm của việc thực thi các chính sách 
tài chính tiền tệ của nhà nước, nhìn vào thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng, ta có thể đánh giá được hiệu quả của hệ 
thống tài chính và sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
2. Những tồn tại trong tiến trình thực hiện tự do hóa tài chính
2.1 Vấn đề lãi suất
Việc áp dụng cơ chế tự do hóa lãi suất đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng và là bước tiến quan trọng 
của quá trình tự do hóa tài chính ở VN. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi tích cực thì việc thực hiện tự do hóa lãi suất trong 
thời gian qua cũng nảy sinh một số vấn đề bất cập trong quản lý lãi suất và khó khăn cho hệ thống ngân hàng VN như việc NHNN 
công bố lãi suất cơ bản nhằm định hướng lãi suất thị trường trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, các NHTM cổ phần 
tiềm lực về tài chính còn hạn chế phải đối mặt khi tiến hành tự do hóa lãi suất.
2.2 Hệ thống pháp lý và kế toán - kiểm toán
- Hệ thống pháp lý: Tuy đã có những sửa đổi nhất định để hoàn thiện hành lang pháp lý, nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng được 
yêu cầu phát triển, hiệu quả kinh doanh của toàn hệ thống còn thấp, sức cạnh tranh còn khoảng cách xa so với các nước trong 
khu vực và trên thế giới 
- Kế toán - kiểm toán: Chúng ta đã có Luật kế toán và Luật kiểm toán nhưng hoạt động kế toán, kiểm toán ở VN vẫn chưa đạt đến 
qui mô mà tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi.
2.3 Điều hành tỷ giá hối đoái
Xung quanh vấn đề tỷ giá ở VN hiện nay, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng: Giá trị đồng VN đã bị đánh giá quá cao so với 
ngoại tệ , như vậy, trước hết nó sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa VN trên thị trường quốc tế, ảnh hưởng xấu đến hoạt 
động xuất nhập khẩu, sau đó làm NHNN khó điều hành chính sách tiền tệ.
2.4 Hệ thống ngân hàng
Trong thời gian qua, Nhà nước đã có những thay đổi về chính sách giúp cho hệ thống ngân hàng VN tiến gần hơn đến điều kiện 
đủ cho thành công của tự do hóa tài chính. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng VN còn nhiều yếu kém trên các mặt
a. Quản lý yếu kém
Vấn đề điều hành, quản lý hoạt động ngân hàng từ NHNN đến các NHTM chiếm vị trí quan trọng trong việc quyết định hoạt động 
hiệu quả và tính lành mạnh của hệ thống, nhất là đối với NHTM trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường và chấp nhận cơ 
chế kinh doanh bình đẳng.
Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa được chú ý đúng mức ở các NHTM, trong một số ngân hàng, bộ phận kiểm soát nội bộ 
tồn tại mang tính hình thức, không phát hiện được những sai sót của bộ phận điều hành hoặc nếu có phát hiện ra thì cũng không 
xử lý được. Đây là vấn đề mà hệ thống ngân hàng VN cần có biện pháp khắc phục vì nó liên quan mật thiết đến hiệu quả kinh 
doanh của ngân hàng, nhất là trong vấn đề quản lý lãi suất của hoạt động tín dụng.
b. Tính cạnh tranh thấp
Hiện nay, NHTMQD vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống ngân hàng mà khách hàng của khu vực này chủ yếu vẫn là các 
DNNN, điều này khiến cho việc cải cách hoạt động của các NHTMQD sang kinh doanh trên cơ sở thương mại thực sự và tạo môi 
trường kinh doanh bình đẳng trong lĩnh vực ngân hàng gặp khó khăn. Sự bảo trợ công khai hay ngấm ngầm của Nhà nước đối 
với các DNNN trong việc vay vốn ngân hàng vẫn còn tồn tại đồng nghĩa với việc phát huy tác dụng của các qui luật kinh tế thị 
trường trong lĩnh vực này bị cản trở, dẫn đến tính cạnh tranh trong khu vực NHTMQD còn thấp.
3. Giải pháp cho vấn đề tự do hóa tài chính và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng ở VN
3.1 Sử dụng công cụ lãi suất trong quản lý vĩ mô
3.1.1 Công cụ điều tiết lãi suất
Lãi suất là một trong những công cụ được các chính phủ sử dụng trong quản lý vĩ mô nền kinh tế nhất là trong cơ chế thị trường, 
nó kích thích tập trung nguồn lực tài chính và phân bổ nguồn lực đó một cách có hiệu quả, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn 
định mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
3.1.2 Sử dụng hiệu quả công cụ lãi suất
Trên sơ sở kinh nghiệm thực tế của một số nước trên thế giới về việc sử dụng công cụ lãi suất trong điều hành chính sách tài 
12
chính, tiền tệ thì việc lựa chọn lãi suất nào là cơ bản, có tính chất tác động đến lãi suất thị trường phụ thuộc vào điều kiện phát 
triển của thị trường tài chính tiền tệ của quốc gia. Hiện tại, việc sử dụng các loại lãi suất trên thị trường liên ngân hàng của 
NHNN VN mang tính chất hình thức do độ nhạy cảm của các lãi suất này đối với thị trường thấp; vấn đề được đặt ra là làm thế 
nào để lựa chọn lãi suất chủ đạo với điều kiện lãi suất này phản ánh đúng quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, đồng thời có tác 
dụng điều chỉnh lãi suất thị trường theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.
a. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
Mặc dù thị trường liên ngân hàng đã được thiết lập và hoạt động được một thời gian, nhưng đối với các NHTM thì thị trường liên 
ngân hàng chưa phải là nơi có thể sẵn sàng cung cấp nguồn vốn thiếu hụt, các nghiệp vụ được thực hiện trên thị trường này còn 
ít nên chưa hình thành được lãi suất IBOR. Đối với một thị trường liên ngân hàng phát triển, các NHTM phải tính toán kỹ lượng 
vốn thừa hay thiếu trong ngắn hạn để có thể xác định mức vay hoặc cho vay của mình trên thị trường liên ngân hàng một cách 
chính xác, và khi giao dịch trên thị trường này, bắt buộc phải theo thực hiện lãi suất mình đã công bố. Vì vậy, muốn hình thành 
lãi suất IBOR và nó có tác dụng trong việc điều tiết lãi suất thị trường theo đúng mục tiêu thì việc thúc đẩy hoạt động của thị 
trường này của NHNN là vấn đề quan trọng.
b. Lãi suất trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở được nhiều nước trên thế giới sử dụng rất hiệu quả trong việc điều tiết thị trường tiền tệ cũng như định 
hướng lãi suất trên thị trường do lãi suất trên thị trường này khá sát và nhạy với với lãi suất thị trường, bên cạnh đó các nghiệp 
vụ trên thị trường mở dễ dàng được sửa chữa hơn nếu NHNN phát hiện sai sót so với nghiệp vụ trên thị trường liên ngân hàng, 
quan trọng nhất là khả năng thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường này có thê đáp ứng yêu cầu về cung ứng vốn, đủ sức điều 
chỉnh lãi suất trên thị trường một cách hữu hiệu, nhưng kèm theo đó là điều kiện phát triển của thị trường mở cũng như yêu cầu 
hoạt động thường xuyên để NHNN có thể thu thập, xử lý thông tin và thực hiện nghiệp vụ thị trường mở sao cho hoạt động trên 
thị trường tiền tệ không vượt quá tầm kiểm soát của NHNN và đi đúng mục đích của chính sách tài chính tiền tệ.
3.2 Cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái
Hiện nay, trên thế giới còn tồn tại nhiều chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, nhưng trong điều kiện hội nhập và quốc tế hóa ngày 
nay, xu hướng tiến tới tự do hóa tỷ giá hối đoái đang được Chính phủ các quốc gia theo đuổi. Xét trên bình diện quản lý vĩ mô thì 
NHNN VN đang thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt, có sự kiểm soát của Nhà nước, đây có thể nói là một lựa chọn đúng đắn của 
Nhà nước trong điều kiện quá trình hội nhập của VN với thế giới còn nhiều cách biệt. Nếu lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi tự do thì 
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của chúng ta chưa cho phép, còn nếu lựa chọn chính sách điều hành tỷ giá theo kiểu 
“an toàn” thì không thể tránh khỏi những áp đặt mang tính hành chính vào quản lý tỷ giá - điều mà chúng ta đang cố gắng thay 
đổi để thích ứng dần với việc điều hành nền kinh tế theo các qui luật phát triển. Điều kiện nêu trên đặt ra những yêu cầu đối với 
Nhà nước trong việc lựa chọn và điều hành tỷ giá phải hết sức linh hoạt, thích ứng dần với hội nhập và tạo động lực phát triển 
kinh tế.
3.2.1 Xác định đúng giá trị của đồng VN
Từ lâu đồng tiền VN (VND) đã có quan hệ tỷ giá chính thức với đồng đôla Mỹ (USD), để ấn định tỷ giá này, NHNN căn cứ vào tỷ 
giá của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để công bố tỷ giá hàng ngày, đây cũng là cơ sở pháp lý để các TCTD đưa ra mức tỷ 
giá cụ thể trong giao dịch với khách hàng. Như vậy, tỷ giá VND chủ yếu được đánh giá thông qua sự biến động của VND so với 
USD, điều này phản ánh đúng thực trạng giao dịch ngoại hối của VN, các hoạt động thanh toán bằng USD chiếm tỷ trọng cao, 
tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào một ngoại tệ duy nhất là USD để xác định giá trị bản tệ thì quá mạo hiểm đối với việc hoạch định 
chính sách vĩ mô. Vì vậy, chúng ta nên xem xét lại khả năng xác định linh hoạt tỷ giá VND tương ứng với một rổ tiền tệ là các 
ngoại tệ mạnh có tham gia thương mại với VN, có như vậy, đồng tiền VN mới được xác định đúng giá trị và giảm thiểu tâm lý 
sùng bái USD, dẫn đến tình trạng đôla hóa nền kinh tế của đại bộ phận dân cư hiện nay.
3.2.2 Nới lỏng biên độ tỷ giá và tiến tới lọai bỏ các công cụ kiểm soát tỷ giá mang tính hành chính
Năm 2005, NHNN vẫn qui định biên độ tỷ giá đối với các TCTD kinh doanh ngoại tệ theo hướng nới lỏng biên độ hơn, hướng đi 
này giống như một bước thực tập cho các NHTM làm quen dần với việc kinh doanh tiền tệ theo cơ chế cạnh tranh bình đẳng và 
sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, giảm thiểu tình trạng bị sốc do các biến động. Sau đó, Nhà nước sẽ tiến hành loại 
bỏ qui định mang tính hành chính áp đặt và đẩy mạnh việc sử dụng các công cụ quản lý gián tiếp trong điều hành tỷ giá hối đoái, 
các TCTD được tự do quyết định giá mua bán ngoại tệ trên cơ sở qui luật cung - cầu trên thị trường ngoại hối, các bước tiến 
hành như trên sẽ giúp cho các NHTM phát huy tính tự chủ và khả năng hội nhập thị trường tài chính quốc tế theo đúng tiến trình.
3.2.3 Sử dụng công cụ gián tiếp để điều chỉnh tỷ giá trên thị trường
Muốn cho công cụ điều chỉnh gián tiếp của NHNN thông qua nghiệp vụ trên TTNTLNH có tác dụng, điều kiện cần là TTNTLNH 
phải thực sự tạo niềm tin cho các NHTM bằng cách biến đây thành chỗ dựa của họ và nhu cầu được tham gia giao dịch ngọai tệ 
trên thị trường trở nên không thể thiếu. Hệ thống thanh tóan liên ngân hàng cần được đầu tư đúng mức để đạt được hiệu quả 
nhất, tiết kiệm thời gian cũng như nhân lực, đồng thời giúp cho cả NHNN và các NHTM có thể cập nhật những thông tin thị 
trường và ra quyết định nhanh nhất trong giao dịch trên thị trường này. Có như vậy, các nghiệp vụ ngoại hối mới có thể được 
thực hiện và phát triển trên thị trường, tránh sự đơn điệu về nghiệp vụ ngọai hối hiện nay của TTNTLNH và công cụ điều chỉnh 
của Nhà nước thông qua thị trường này mới có tác dụng.
13
3.3 Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng
3.3.1 Đối với ngân hàng Nhà nước
- Cấu trúc lại tổ chức của NHNN từ Trung ương xuống chi nhánh theo hướng tinh gọn, hiện đại, tránh sự can thiệp của chính 
quyền các cấp.
- Xây dựng và từng bước hoàn thiện các khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng cho hoạt động của các tổ chức tín dụng hoạt động 
trên lãnh thổ VN.
- Xóa bỏ cơ chế bao cấp đối với các NHTM, đặc biệt là đối với các NHTM quốc doanh, buộc các ngân hàng này phải thực sự 
hoạt động theo nguyên tắc thị trường, xóa bỏ dần cơ chế tín dụng chỉ định, giao nghiệp vụ tín dụng ưu đãi theo chính sách của 
nhà nước cho các ngân hàng chính sách.
- Lãi suất và tỷ giá hối đoái được thỏa thuận theo quan hệ cung cầu trên thị trường, thực hiện kiểm soát gián tiếp thông qua các 
công cụ của chính sách tiền tệ.
- Tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức ngân hàng.
- Xây dựng hệ thống thông tin tài chính hiện đại, đảm bảo cho hệ thống tài chính hoạt động an toàn và hiệu quả, dễ giám sát theo 
thông lệ quốc tế.
- Rà soát lại toàn bộ những qui định về việc thành lập, hoạt động của các tổ chức tín dụng trong nước cũng như nước ngoài . . 
.áp dụng linh hoạt các công cụ dự trữ bắt buộc, cho vay tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở.
3.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại
Yêu cầu đối với các NHTM là :
- Các ngân hàng phải có qui mô đủ lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao.
- Phân bổ và huy động vốn một cách có hiệu quả.
- Nâng cao năng lực quản lý và tiềm lực tài chính của các NHTM trên cơ sở cơ cấu lại tài chính bao gồm : xử lý nợ quá hạn, đẩy 
mạnh tái đầu tư và cơ cấu lại sở hữu nhằm tăng vốn điều lệ.
- Hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, xây dựng và áp dụng cơ chế kiểm tra kiểm soát nội bộ theo thông lệ quốc tế.
- Tạo sức cạnh tranh, mở rộng thị phần trong nước và tranh thủ thời cơ mở thị trường kinh doanh ra nước ngoài.
3.4 Tiến hành cổ phần hóa NHTMQD
Tiến trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và lành mạnh hóa tài chính quốc gia đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, 
các giải pháp lớn cần tiến hành như : xử lý nợ đọng, tăng vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng rất cần sự trợ giúp của Chính 
phủ và các cơ quan chức năng, tuy nhiên, để hệ thống ngân hàng có thể giữ được sự phát triển ổn định, đủ sức cạnh tranh trong 
môi trường mở cửa, ngăn ngừa sự phát sinh nợ xấu thì bản thân hệ thống ngân hàng cần có những nỗ lực hơn, nhất là các 
NHTMQD - những ngân hàng vốn chiếm ưu thế về thị phần và lượng vốn trong hệ thống ngân hàng VN.
Để thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước có thể cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của 
NHTMQD với lượng cổ phần tối đa không được vượt quá một tỷ lệ qui định, nhằm tránh tình trạng bị thâu tóm bởi các tập đoàn 
tư bản nước ngòai do chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc điều hành cũng như tổ chức hoạt động của một NHTM hiện 
đại. Bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngòai, phát triển về vốn hoạt động ngân hàng, chúng ta có thể thuê các tổ chức tài 
chính quốc tế thực hiện việc cấu trúc lại hoạt động NHTM theo tiêu chuẩn của NHTM quốc tế hiện đại. Có như vậy, NHTM của 
VN mới trở thành một NHTM hiện đại đích thực, có khả năng cạnh tranh và vươn ra thị trường quốc tế.
Xu hướng tất yếu khách quan ngày nay là hòa nhập kinh tế toàn cầu, gắn liền với quá trình tự do hóa thương mại và dòng vốn lưu 
chuyển không biên giới. Nếu tách biệt ra khỏi quá trình này, một quốc gia không thể đạt được sự phát triển cao và bền vững. Đối 
với VN, đổi mới trong chính sách tài chính là một bộ phận cấu thành của tiến trình hòa nhập kinh tế thế giới nên thành công của 
việc thực hiện chính sách tài chính sẽ góp phần không nhỏ vào thành công của công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội có như 
vậy, VN mới có thể thực hiện thành công tự do hóa tài chính - một bước tiến quan trọng, một xu thế tất yếu của quá trình toàn cầu 
hóa nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
Câu 4: Những yếu tố tác động trực tiếp đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI)? Phân tích các giải pháp mở rộng 
thu hút nhanh vốn FDI tại Việt Nam.
Có thể chia thành 5 nhóm yếu tố:
a/ Động cơ của nhà đầu tư
Mục tiêu của các chủ đầu tư khi tiến hành đầu tư là nhằm thu lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Muốn vậy, ngoài việc khai 
thác tối đa thị trường trong nước, họ còn tìm cách vươn ra thị trường nước ngoài để mở rộng thị phần. Để xâm nhập thị trường 
nước ngoài, các chủ đầu tư có thể sử dụng nhiều cách khác nhau (xuất khẩu, tiến hành FDI, nhượng quyền, ). Thông thường 
chủ đầu tư sẽ quyết định đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức FDI khi bản thân họ có các lợi thế độc quyền riêng và FDI sẽ giúp 
họ tận dụng được nhiều lợi thế cũng như cắt giảm chi phí (chi phí nhân công, nguyên liệu tại chỗ, chi phí vận chuyển ) nhằm tối 
đa hóa lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh. 
b/ Nguồn lực:
14
- Tiềm năng thị trường: Qui mô và tiềm năng phát triển của thị trường là những nhân tố quan trọng hàng đầu khi nhà đầu tư 
quyết định lựa chọn địa điểm để đầu tư. Thông thường họ sẽ nhắm đến những vùng tập trung đông dân cư , có nhiều kỳ vọng 
tăng trưởng nhanh trong tương lai và có các cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận.
- Vị trí địa lý: Lợi thế về vị trí địa lý giúp tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển, dễ dàng mở rộng ra các thị trường xung 
quanh, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung hóa.
- Tài nguyên: Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài.
- Nguồn nhân lực:
Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước đang phát triển, các chủ đầu tư sẽ nhắm đến việc khai thác 
nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thãi ở các nước này. Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn được đáp ứng đầy đủ và 
có thể thỏa mãn yêu cầu của các công ty. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân lực có trình độ kỹ thuật cao, nhiều kinh nghiệm, những cán 
bộ quản lý giỏi cũng là nguồn lực hấp dẫn các nhà đầu tư.
Văn hóa, thái độ, tác phong làm việc của người lao động là những yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa 
điểm để đầu tư.
c/ Cơ sở hạ tầng:
Chất lượng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghiệp hóa có ảnh hưởng rất quan trọng đến dòng vốn đầu tư nước 
ngoài vào một nước hoặc một địa phương. Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh (bao gồm cả hệ thống đường bộ, 
đường sắt, đường hàng không, mạng lưới cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tiện ích khác), là điều mong 
muốn đối với mọi nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó còn phải kể đến các dịch vụ hỗ trợ khác như hệ thống y t ế, giáo dục, giải 
trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo, kỹ thuật, v.v ). 
Thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các hoạt động này, môi trường đầu tư cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, hiệu 
quả hoạt động của các cơ sở công nghiệp địa phương, sự có mặt của các ngành công nghiệp hỗ trợ, sự tồn tại các đối tác tin cậy 
để các công ty nước ngoài có thể liên doanh liên kết cũng là những yêu cầu rất quan trọng cần phải được xem xét đến.
d/ Sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư.
Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh tế chính trị của vốn FDI vượt khỏi sự kiểm soát của chủ 
đầu tư nước ngoài. Những bất ổn định kinh tế chính trị sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư, nó không chỉ làm cho dòng 
vốn này bị chững lại, thu hẹp, mà còn làm cho dòng vốn từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi mới an toàn và 
hấp dẫn hơn.
Hệ thống pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn cho nhà đầu tư. Nội dung của hệ thống pháp 
luật càng đồng bộ, chặt chẽ, tiên tiến, nhưng cởi mở, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn của FDI 
càng cao.
e/ Hệ thống chính sách đầu tư hấp dẫn, khuyến khích nhà đầu tư
Ví dụ như: Chính sách thương mại thông thoáng; chính sách tiền tệ, lãi suất linh hoạt; chính sách hỗ trợ tín dụng; hệ thống thuế 
rõ ràng, đơn giản, dễ áp dụng, mức thuế không quá cao, có ưu đãi…
Phân tích các giải pháp mở rộng thu hút nhanh vốn FDI tại Việt Nam. 
Định hướng:
Để có những định hướng cụ thể về việc thu hút FDI, cần xem xét một số thuận lợi và khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt 
trong thời gian sắp đến.
- Về thuận lợi: Dòng FDI toàn cầu đã dần vượt qua khỏi đáy của sự suy giảm năm 2009, có thể bắt đầu lấy lại đà tăng 
trưởng trong năm 2011 và được dự báo đạt 1,2-1,5 nghìn tỉ USD. Các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi 
tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Điều tra triển vọng đầu tư thế giới (WIPS) 2009-2011 của Cơ 
quan Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) cho thấy, Việt Nam vẫn được các công ty xuyên quốc gia (TNCs) 
đánh giá là 1 trong 15 nền kinh tế hấp dẫn cho đầu tư. Tình hình chính trị ổn định, vị thế quốc tế của Việt Nam đang được nâng 
cao cùng với các hoạt động kinh tế đối ngoại tích cực trong năm 2010 của lãnh đạo cấp cao Đảng và nhà nước ta sẽ tiếp tục 
củng cố lòng tin và làm gia tăng mối quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài đối với nước ta trong năm 2011 và thời gian tới. 
- Về thách thức: Bên cạnh những thuận lợi thì Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế ảnh hưởng đến thu hút FDI như: hệ 
thống kết cấu hạ tầng còn yếu kém, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, công tác quy hoạch thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính 
rườm rà, …
Từ những yếu tố thuận lợi và khó khăn đã phân tích, chúng ta có thể dự báo trong ngắn hạn năm 2011, Việt Nam sẽ thu 
hút được khoảng 20 tỉ USD vốn FDI (bao gồm cả tăng vốn, mở rộng sản xuất), tăng 7,6% so với ước thực hiện năm 2010 và vốn 
thực hiện đạt khoảng 11-11,5 tỉ USD.
Theo thứ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Phạm Huy Đông, trong thời gian sắp tới, thu hút FDI sẽ thực hiện theo hướng chọn 
lọc hơn và trọng tâm là thu hút các dự án cơ sở hạ tầng; sử dụng công nghệ cao; công nghệ sạch và có khả năng tạo ra các sản 
phẩm có sức cạnh tranh; các dự án sản xuất hàng xuất khẩu; phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; có khả năng tham gia vào 
chuỗi giá trị toàn cầu Đối với những dự án đầu tư quy mô lớn, đặc biệt là các dự án có sử dụng đất lớn, có khả năng gây ô 
nhiễm môi trường, sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản nếu không có chế biến sâu, các dự án tiêu tốn nhiều năng lượng sẽ 
15
được xem xét kỹ càng hơn. Bên cạnh đó, những dự án đầu tư chậm triển khai sẽ được phân loại để có những biện pháp xử lý phù 
hợp, trong đó có việc xem xét rút Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật để tạo cơ hội cho các nhà đầu tư khác 
thực sự có tiềm năng và năng lực triển khai tham gia đầu tư.
Một số giải pháp đổi mới nhằm thu hút, sử dụng vốn FDI hiệu quả:
a/ Về chính sách, quản lý nhà nước:
- Tiếp tục duy trì được ổn định chính trị như hiện nay là một trong những yếu tố hấp dẫn nhất đối với nhà đầu tư nước 
ngoài vào Việt Nam so với các nước trong khu vực.
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đầu tư nước ngoài theo hướng đầy đủ, rõ ràng, thông thoáng, thống 
nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài và Luật doanh nghiệp áp dụng chung cho cả doanh 
nghiệp trong và ngoài nước, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Thủ tục hành chính cần giảm bớt tối đa, tăng cường hỗ trợ 
các nhà đầu tư giải quyết các thủ tục.
- Phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài.
- Thực hiện các cam kết quốc tế sau khi gia nhập WTO để tạo ra một sân chơi lành mạnh nhằm thu hút nhiều nguồn vốn 
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
b/ Về các giải pháp quy hoạch:
- Rà soát, quy hoạch ngành, vùng chiến lược, từng bước mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ theo lộ trình cam kết quốc tế 
và thực hiện các cam kết quốc tế. 
- Làm rõ các lĩnh vực không cấp phép đầu tư và đầu tư có điều kiện, trong đó chú trọng lĩnh vực văn hoá thông tin theo 
hướng minh bạch, cụ thể và phù hợp với các cam kết quốc tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nội dung triển khai chậm hoặc 
chưa triển khai đã cam kết trong Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ,…
c/ Về xúc tiến đầu tư:
- Ðể thu hút dòng vốn FDI đúng mục tiêu và định hướng, công tác xúc tiến đầu tư cần tiếp tục được đổi mới theo hướng bố 
trí các nguồn lực để xúc tiến đầu tư theo chuyên đề, theo ngành, lĩnh vực và theo vùng, miền. Không xúc tiến đầu tư theo địa giới 
hành chính để bảo đảm tính liên kết vùng, miền, tận dụng tối đa các tiềm năng thế mạnh của vùng, miền và giảm đầu tư theo 
phong trào, theo thành tích.
- Cần phải có chiến lược kêu gọi đầu tư, tăng cường các hoạt động đối ngoại, tích cực xúc tiến đầu tư qua mọi phương tiện, 
mọi kênh thông tin với các nước trên thế giới thông qua các chuyến thăm, làm việc cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và 
Chính phủ; tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo tổ chức trong và ngoài nước
d/ Về cải thiện cơ sở hạ tầng:
- Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút 
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài 
ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.); hệ thống đường 
bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt; sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượng 
mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin.
- Ngoài ra cần phải quy hoạch, nâng cấp hệ thống điện, nước sạch và đường truyền Internet băng thông rộng. Giá cước, phí 
các loại hàng hoá, dịch vụ công cộng cần phải có sự điều chỉnh tương đương với các nước trong khối Asean nhằm đáp ứng tối đa 
các nhu cầu mà nhà đầu tư nước ngoài đã đặt ra.
e/ Về nguồn nhân lực:
Cần nâng cao số lượng cũng như chất lượng nguồn lao động Việt Nam đáp ứng được nhu cầu về nguồn lao động do các 
nhà đầu tư nước ngoài đặt ra như: trình độ tay nghề - kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ, sức khoẻ và tác phong làm việc công nghiệp.
f/ Một số giải pháp khác:
- Xây dựng chính phủ điện tử và phổ biến thương mại điện tử. Thúc đẩy thiết kế và xây dựng các website của Chính phủ, 
chính quyền địa phương và các doanh nghiệp để các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận các nguồn thông tin FDI ban đầu có chất lượng 
và trung thực thông qua mạng Internet. 
- Thu hút nguồn vốn đầu tư của Việt kiều về nước. Chính phủ cần có những chính sách, cơ chế nhằm kêu gọi, thu hút các 
Việt kiều về nước đầu tư do họ có những trình độ quản lý, nắm bắt công nghệ phương Tây, thêm nữa giúp quảng bá tốt hơn các 
chính sách đầu tư của Việt nam với các đối tác kinh doanh quốc tế của mình.
Câu 5: Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ tham gia vào quản lý hệ thống tài chính bằng các “qui định” 
(Regulations)?
Kể từ khi thống nhất đất nước, ban đầu hệ thống tài chính của Việt Nam được tự do hoá hoàn toàn, nhưng dần dần tất cả các loại 
trong hệ thống tài chính dần dần được chính phủ Việt Nam kiểm soát chặt chẽ bằng các quy định cụ thể cho từng lĩnh vực trong 
hệ thống tài chính: Ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Cấu trúc hệ thống tài chính: thị trường tài chính, tổ chức tài chính, các 
công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính. 
16
Để kiểm soát được sự vận hành của từng lĩnh vực trong hệ thống tài chính, chính phủ đã ban hành rất nhiều quy định nhằm kiểm 
tra, giám sát của các hoạt động tài chính, đồng thời hạn chế rủi ro cho quốc gia. 
- Thứ nhất, trong hệ thống ngân hàng, với hàng loạt các quy định để kiểm soát được sự mất thanh khoản của hệ thống ngân hàng 
thương mại, NHTW đã quy định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc của mỗi ngân hàng thương mại, để hạn chế được sự lạm phát, chính phủ đã 
ban hành các quy định về lãi suất trần, lãi suất sàn và lãi suất tái cấp vốn… Ngoài ra để bảo đảm an toàn trong hoạt động của các 
ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung, chính phủ đã có một số quy định “Tổ chức tín dụng không được huy động 
vốn quá 20 lần tổng số vốn tự có và quỹ dự trữ”, thủ tướng chính phủ đã ban hành danh mục về vốn pháp định của các tổ chức tín 
dụng đến hết năm 2010 phải có vốn điều lệ tối thiểu là 3000 tỷ đồng và thực hiện các chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá để 
quản lý nền kinh tế. Một số chính sách có tính chất chữa cháy như chỉ thị 03vào tháng 05/2007 khống chế dư nợ cho vay kinh 
doanh chứng khoán không được vượt quá 3% tổng dư nợ cho vay. 
- Thứ hai, trong thị trường chứng khoán, chính phủ cũng cực kỳ khắt khe để kiểm soát được thị trường chứng khoán để thực sự 
hoạt động hiệu quả. Một số quy định về việc chào bán chứng khoán riêng lẻ và chào mua công khai, hay các công ty đại chúng 
phải công bố thông tin định kỳ về một số nội dung cơ bản: báo cáo tài chính kiểm toán, nghị quyết đại hội đồng cổ đông thường 
niên. Việc chào mua chứng khoán công khai nhằm kiểm soát các nhà đầu tư lách luật mà các cơ quan chức năng không xử lý 
được. Việc chào bán chứng khoán riêng lẻ phải có các điều kiện sau: có nghị quyết của đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản 
trị thông qua phương án chào bán và sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán. 
- Thứ ba, trong thị trường bảo hiểm, Uỷ ban kinh tế đã dần dần xây dựng nên các quy định nhằm kiểm soát chặt chẽ các dịch vụ 
bảo hiểm qua biên giới (các dịch vụ bảo hiểm trực tiếp ) để tránh thất thoát ngoại tệ và thất thu thuế… từ thế đã ra đời luật kinh 
doanh bảo hiểm, nội dung đưa ra các quy định, cách thức để các tổ chức kinh doanh bảo hiểm thực thi nhằm tạo ra các chuẩn 
mực chung nhất.
Câu 6: Cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ là do các qui định quản lý của hệ thống tài chính quá lỗi thời. Nhận 
định này đúng hay sai? Giải thích?
“Khủng hoảng tài chính của nước Mỹ là do các qui định quản lý của hệ thống tài chính quá lỗi thời” là nhận định sai
Các NH Mỹ trước đây chịu kiểm soát rất chặt chẽ bởi đạo luật Glass-Steagall (1933 – sau khủng hoảng 1929). Đạo luật này kiểm 
soát rất khắc nghiệt hđ NH, phân biệt rạch ròi, kiểm soát hoạt động của các định chế tài chính (NH đầu tư, cty CK, cty Bảo 
Hiểm). 
Từ năm 1990, đạo luật nào được gỡ bỏ dần dần. Và đến năm 1999, chính quyền Bill Clinton đã thay thế đạo luật này bằng một 
đạo luận mới, cho phép các định chế siết chặt lại với nhau, không còn ranh giới (NH có quyền kinh doanh CK, BH cũng vậy…). 
Mục đích là tạo ra sự tự do tài chính. 
Chính do sự tự do hóa tài chính này dẫn đến việc các NH tham gia vào rất nhiều các hoạt động mang tính rủi ro cao. Cộng với 
tâm lý quá lớn để thất bại nên các NH càng liều lĩnh trong các hoạt động của mình. Vì vậy mới gây ra khủng hoảng dây chuyền 
năm 2007 ở Mỹ.
Những nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ, đó là:
- Sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng thị trường bất động sản, của các khoản cho vay khổng lồ để thế chấp nhà đất ở Mỹ.
- Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng và sai lệch lớn trong điều tiết tài chính, khi có tình thế xấu xảy ra, hệ thống ngân hàng Mỹ 
bị hoảng loạn, lan ra toàn thế giới, gây nên sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn tới sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư. 
- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ và nhiều nước đã có những khiếm khuyết lại được thực hiện thiếu nhất quán, đầy đủ và 
thiếu cải cách cơ cấu dẫn tới kinh tế vĩ mô mất cân bằng và thiếu bền vững.
- Sự suy giảm giá trị của đồng đô la và khủng hoảng chế độ tiền tệ không bản vị. Từ tháng 8/1971, Mỹ tuyên bố đóng cửa thị 
trường vàng và đồng đô la từ đó không còn dùng vàng làm thước đo giá trị nữa. Từ đó, đồng đô la được phát hành vô tội vạ và 
giá trị của nó ngày càng giảm đi.
- Kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn giữa việc xã hội hoá vô cùng mạnh mẽ, rộng lớn của sức sản xuất xã hội được cộng 
hưởng trong quá trình toàn cầu hoá với quan hệ chiếm hữu tư nhân chật hẹp, ích kỷ, vô trách nhiệm tại các nền kinh tế lớn có 
ảnh hưởng toàn cầu, đặc biệt là ở Mỹ và các nước phát triển. Để bảo đảm mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận, giới chủ tư bản và 
các tập đoàn tư bản bằng mọi giá thúc đẩy tư nhân hoá, tự do hoá thị trường, cổ vũ chủ nghĩa thực dụng, khuyếch đại chính sách 
tư bản giả, chi phối các chính sách kinh tế - xã hội của các quốc gia. Chính vì thế, gần như toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối 
sản phẩm đều trong tay giới tư bản tài phiệt, bất khả xâm phạm, không thể kiểm soát. 
Những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp nêu trên, bắt nguồn từ một điều cốt lõi nhất, quan trọng nhất dẫn tới cuộc khủng 
hoảng này. Đó chính là việc nhận thức và thực hiện sai lệch vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Cuộc khủng 
hoảng lần này rõ ràng bắt nguồn trực tiếp từ việc Chính phủ Mỹ và các chính phủ khác ở các nước phát triển đã xử lý sai lầm 
quan hệ giữa nhà nước và thị trường, trao quá nhiều quyền cho cơ chế thị trường tự do, buông lỏng sự quản lý và giám sát điều 
hành của nhà nước. Cụ thể hơn ở Mỹ là Cục dự trữ Liên bang đã thả lỏng tín dụng trong một thời gian dài cho sự bùng nổ thị 
trường bất động sản; thị trường ảo và kinh tế “bong bóng” đã tự do phi mã đến lúc vỡ tung ra. Lỗi quan trọng ở đây là “quá ít 
nhà nước, quá nhiều thị trường tự do”.
17
Cắt nghĩa từ cội nguồn vấn đề này cần khái lược lại cơ chế vận hành của nền kinh tế Mỹ và các nước phát triển. Đã có một thời 
gian dài, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa được vận hành theo cơ chế hoàn toàn tự do dựa trên học thuyết kinh tế của nhà 
kinh tế học cổ điển Adam Smith. Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc (1776)”, Adam Smith đã đưa ra quan điểm có tính 
triết lý là: Hãy để cho thị trường vận hành dưới sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình”, cơ chế thị trường tự do sẽ đưa tới kết quả 
cuối cùng là “sự hài hoà xã hội”. Tuy nhiên, cuộc Tổng khủng hoảng 1929 - 1933 đã làm cho tất cả các nước Tư bản chủ nghĩa 
phát triển buộc phải từ bỏ lý luận về bàn tay vô hình của cơ chế thị trường để chuyển sang thực hiện thuyết kinh tế của Keynes 
với lý lẽ ngược lại rằng: Để thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và nguy cơ bùng nổ xã hội, nhà nước phải điều tiết kinh tế. Lý 
thuyết kinh tế của Keynes đã chiếm địa vị chi phối ở các nước Phương Tây từ năm 1945 - 1973.
Tới nửa cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới nổ ra, các nước tư bản phát triển lại rơi 
vào suy thoái kinh tế và lý thuyết Keynes bị coi là nguyên nhân gây ra tình trạng trên để thay vào đó là chủ nghĩa tự do mới. Từ 
đầu những năm 1980, chủ nghĩa tự do mới được Thủ tướng Anh That-chơ, Tổng thống Mỹ Reagan cùng với WB, IMF nhiệt liệt 
tán thưởng và lý thuyết đó được đưa vào vận hành ngay tại Mỹ, các nước Tây Âu và hàng loạt nước khác. Phương châm của lý 
thuyết tự do mới là “thị trường nhiều hơn, nhà nước ít hơn” với 5 điểm chủ yếu: 1. Tăng thị trường; 2. giảm nhà nước; 3. phi 
điều tiết hoá; 4. tự do hoá; 5. tư nhân hóa. Theo quan điểm của thuyết tự do mới, tăng trưởng kinh tế phải đi trước, công bằng xã 
hội sẽ đi sau, người nghèo hãy kiên tâm chờ đợi. Do việc áp dụng chủ nghĩa tự do mới, khoảng cách giữa các nước giàu và các 
nước nghèo cũng như giữa người giàu và người nghèo ngày càng gia tăng.
Chỉ khoảng trên dưới một thập niên áp dụng mô hình kinh tế theo thuyết tự do mới, các cuộc khủng hoảng kinh tế lần lượt nổ ra 
ở Mêhicô, một số nước ở Đông Nam Á, Nga, Áchentina trong những năm 90 của thế kỷ trước và lần này nổ ra ngay tại Mỹ, 
nước đi đầu trong việc áp dụng cơ chế kinh tế này. Cuộc khủng hoảng đó nhanh chóng gây thành phản ứng dây chuyền, đẩy kinh 
tế thế giới lún sâu vào cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước. Rõ ràng, cuộc khủng hoảng tài chính toàn 
cầu lần này đã giáng một đòn chí tử vào lý thuyết của chủ nghĩa tự do mới, vào quan điểm coi nhẹ vai trò điều hành và quản lý 
của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Giáo sư Joseph Stiglitz, người được giải thưởng Nobel kinh tế năm 2001 đã khẳng 
định; Mỹ đã xuất khẩu triết lý kinh tế thị trường tự do, xuất khẩu một thứ văn hóa doanh nghiệp vô trách nhiệm đối với xã hội , 
và cuối cùng đã xuất khẩu sự suy thoái đi bốn phương 
Câu 7: Theo S.Mishkin (2004): … “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính 
đối với các doanh nghiêp”…
Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên và nêu ra các giải pháp để giúp hệ thống các 
ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh?
(minskin tr18: vấn đề chanh)
Thuyết trật tự phân hạng (Thông tin bất cân xứng)
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn 
cổ phần mục tiêu rõ ràng.
Giả thuyết rằng ban quản trị biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin không 
cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền 
mặt tương lai.
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát hành chứng khoán (nguồn tài chính 
bên ngoài). Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giá 
cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban 
quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài). Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn 
này, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếu 
như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao.
Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành tiền cho 
vay. Điều này khiến các nhà quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu.
Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc phân hạng thị trường. Trước 
hết, các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay, và cuối cùng là phát 
hành vốn cổ phần.
Tiêu điểm của thuyết này không tập trung vào kết cấu vốn tối ưu nhưng tập trung vào sự quyết định tài chính hiện hành sắp tới.
Tỷ lệ Nợ/Tài sản = f {hoạt động kinh doanh, nhu cầu đầu tư}
Như vậy, Myers và Majluf cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối ưu với các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, tài trợ bằng nợ rẻ hơn vốn cổ phần. Trong trường hợp này, “chi phí” được đề cập ở đây chính là chi phí có thể đo 
lường được cho việc huy động vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Với nợ, đó chính là chi phí lãi vay mà doanh nghiệp 
phải trả cho khoản vay của mình. Với vốn cổ phần, chi phí sử dụng vốn được hiểu như là quyền đối với thu nhập phải đủ thỏa 
mãn được các cổ đông khi họ quyết định góp vốn vào công ty.
Ví dụ, nếu bạn điều hành một doanh nghiệp nhỏ và cần tài trợ khoảng $40,000, bạn có thể hoặc là đi vay ở ngân hàng số tiền 
18
$40,000 với lãi suất 10% hoặc bạn có thể bán 25% cổ phần doanh nghiệp cho người hàng xóm với giá $40,000. 
Giả sử trong năm sau đó, doanh nghiệp của bạn có thể tạo ra được lợi nhuận hoạt động là $20,000. Nếu ban đầu bạn quyết định 
đi vay ở ngân hàng với chi phí lãi vay (hay còn gọi là chi phí tài trợ của nợ) sẽ là $4,000, bạn còn lại lợi nhuận $16,000. Ngược 
lại, nếu bạn đã sử dụng tài trợ vốn cổ phần, nghĩa là bạn không hề có nợ và dĩ nhiên là không có chi phí lãi vay nhưng bạn chỉ 
được nắm giữ 75% lợi nhuận của doanh nghiệp thôi (25% khác thuộc sở hữu của người hàng xóm nhà bạn). Do đó, lợi nhuận 
của bạn bây giờ chỉ có $15,000 (tức 75%*$20,000)
Do đó, cũng dễ hiểu khi các cổ đông sáng lập của công ty quyết định lựa chọn phát hành nợ chứ không phải vốn cổ phần. Thuế 
cũng là một yếu tố giúp cho tình huống phát hành nợ trở nên tốt hơn. Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ, bởi vì chi phí lãi vay được 
khấu trừ ra khỏi thu nhập hoạt động trước khi thu nhập bị đánh thuế, do đó chính hành động đã đem đến cho doanh nghiệp lợi ích 
tấm chắn thuế từ nợ.
Dĩ nhiên, lợi ích của tài trợ nợ với lãi suất cố định đôi khi lại có thể là điểm bất lợi. Bởi vì nợ được xem là chi phí tài chính cố 
định, dù doanh nghiệp của bạn có hoạt động ra sao, thu nhập nhiều hay thậm chí đang thua lỗ thì doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo 
việc trả lãi vay đúng kỳ hạn và trả nợ gốc khi đáo hạn, do vậy một sự gia tăng nợ của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc gia 
tăng thêm rủi ro tài chính.
Quay trở lại ví dụ trên, giả sử trong năm sau, công ty của bạn chỉ tạo ra được có $5,000. Với tài trợ nợ, bạn có thể vẫn có cùng 
$4,000 lãi vay phải trả và vì vậy lợi nhuận của bạn chỉ còn lại $1,000 ($5,000 -$4,000). Trong trường hợp tài trợ hoàn toàn 
bằng vốn cổ phần, tức là bạn không hề phải trả một đồng lãi vay nào hết, thì bạn vẫn có 75% lợi nhuân tương đương với $3,750 
(75% x $5,000).
Do vậy, đối với một công ty được kỳ vọng làm ăn tốt thì tài trợ nợ có thể được sử dụng thường xuyên với mức chi phí thấp hơn 
so với tài trợ bằng vốn cổ phần. Tuy nhiên, nếu giai đoạn nào công ty không thể vận hành tốt để tạo ra lượng tiền mặt đủ lớn, thì 
chi phí lãi vay lúc này có thể là một gánh nặng. Đây chính là mặt trái của việc tài trợ hoạt động doanh nghiệp bằng nợ. Từ đây có 
thể thấy, dù nợ có chi phí rẻ hơn vốn cổ phần, doanh nghiệp nào cũng có thể hiểu được điều này, nhưng thời điểm nào thì sử 
dụng nợ là hợp lý? Hợp lý ở đây có nghĩa là tận dụng được tối đa lợi ích của nợ, tận dụng tối đa lợi ích từ đòn bẩy tài chính từ nợ. 
Khi nào thì doanh nghiệp nên vay nợ và vay nợ bao nhiêu là thích hợp? 
Dễ thấy, các doanh nghiệp không bao giờ có thể chắc chắn 100% về lượng thu nhập trong tương lai (mặc dù họ có thể có những 
dự đoán hợp lý) và khi thu nhập tương lai của các doanh nghiệp càng không ổn định thì rủi ro càng tăng lên. Do đó, các doanh 
nghiệp trong ngành có rủi ro kinh doanh thấp, có dòng tiền ổn định thường sử dụng nợ nhiều hơn là các doanh nghiệp trong các 
ngành nhiều rủi ro hơn. Các doanh nghiệp nhỏ hoặc mới bắt đầu hoạt động, đang trong giai đoạn khởi nghiệp cũng sử dụng nợ rất 
ít, nếu không muốn nói là không có sử dụng nợ. Các doanh nghiệp mới với sự không chắc chắn cao có thể phải trải qua một thời 
gian đầy khó khăn để tìm được tài trợ bằng nợ vay, nên thường thì các hoạt động của chúng hầu hết được tài trợ bằng vốn cổ 
phần.
Ở Việt Nam, nhắc đến nợ, người ta thường có tâm lý e dè, nhất là đối với các doanh nghiệp đang trong thời kỳ “sung mãn”, 
lượng tiền mặt vô cùng dư thừa thì dường như họ lại càng không quan tâm đến nợ. Sau 7 năm TTCKVN ra đời, đi vào hoạt động 
và đạt được sự phát triển như hôm nay thì để giải quyết bài toán thiếu vốn, doanh nghiệp niêm yết thường chọn giải pháp vốn cổ 
phần chứ không mấy mặn mà với việc sử dụng tài trợ bằng nợ. Các doanh nghiệp dường như đã quên đi lợi ích từ việc sử dụng 
đòn bẩy tài chính. Hi vọng trong tương lai không xa, vấn đề tài trợ bằng nợ sẽ được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm thỏa 
đáng và đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc sử dụng nợ. Phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng là một hình thức vay nợ của 
doanh nghiệp.
Giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh
Doanh nghiệp và ngân hàng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài chính 
của doanh nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến “sức khỏe” của các ngân hàng. Sau đây là một số giải pháp giúp hệ thống các ngân 
hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh trong việc cho vay đối các doanh nghiệp:
- Thẩm định tốt các doanh nghiệp vay vốn bao gồm thẩm định năng lực tài chính thông qua báo cáo tài chính, hỗ trợ 
doanh nghiệp tự đánh giá năng lực tài chính của công ty từ đó tính toán hạn mức nhu cầu vốn vay thật sự của doanh nghiệp tránh 
tình trạng doanh nghiệp vay số tiền vượt nhu cầu thật sự của mình dẫn đến áp lực trả nợ cao. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cẩn 
phải thẩm định tính pháp ly doanh nghiệp, người đại diện công ty trước pháp luật, trụ sở, chi nhánh nhà xưởng máy móc thiết bị 
để biết được quy mô hoạt động của doanh nghiệp, quy trình sản xuất cũng như hoạt động tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh 
nghiệp. Ngoài ra, thẩm định tài sản (đối với trường hợp vay thế chấp) cũng là một việc quan trọng vì đây là “chốt chặn cuối 
cùng” phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng. Việc thẩm định phải đảm bảo nguyên tắc “an toàn” và không chịu áp tăng trưởng dư nợ 
cũng như áp lực từ phía khách hàng.
19
- Theo sát dòng tiền của doanh nghiệp sau khi cho vay để có những xữ lý kịp thời cũng nhu cung cấp các sản phẩm dịch 
vụ phù hợp cho doanh nghiệp. Ví dụ đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại có uy tín thì ngân hàng có 
thể hỗ trợ vốn vay bằng cách cung cấp sản phẩm chiết khấu hoặc bao thanh toán nhằm hỗ trợ khả năng thanh toán cho doanh 
nghiệp. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp được phép vay tín chấp thì viêc theo sát dòng tiền là điều kiện tiên quyết bắt buộc đối 
với ngân hàng để phòng ngừa rủi ro.
- Bảo mật thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp đang vay vốn tại ngân hàng. Tránh những tiết lộ gây ảnh 
hưởng đền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau cho vay.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ để thực hiện tốt công tác thẩm định và chăm sóc khách hàng.
- Thiết kế các sản phẩm dịch vụ phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp và nhu cầu của họ.
- Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập và có tiềm năng phát triển.
- Cân đối lãi suất huy động và cho vay hợp lý để đảm bảo tính thanh khoản và tăng trưởng dư nợ bền vững.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú sốc bất ngờ như khủng hoảng kinh tế, thiên tai…nguyên 
nhân gây ra tình trạng nợ xấu nhiều nhất là do các ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phía khách hàng của mình mặc dù đã 
có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định . Nói một cách đơn giản, là do cơ chế sàng lọc chưa đủ hiệu lực nên các ngân hàng 
đã để "lọt" những khách hàng có khả năng che đậy hành vi và thông tin của kho trong giao dịch vay vốn để thực hiện những dự 
án có rủi ro cao.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có nhiều thông tin hơn có thể có những hành vi gây tổn hại đến bên có ít thông 
tin hơn. Đây chính là vấn đề bất cân xứng về thông tin trong các hoạt động của nền kinh tế.
Hai hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi (adverse selection) và tâm lý ỷ lại (moral hazard). 
Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi ký kết hợp đồng của bên có nhiều thông tin có thể gây tổ hại cho bên ít thông tin 
hơn. Tâm lý ỷ lại là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít 
thông tin hơn.
Câu 8: Phân tích sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát. Liên hệ thực tiển 
của Việt Nam trong thời gian qua.
1. Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát (xem thêm câu 1)
Chính sách tài khóa là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua những 
thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa. Chính sách tài khóa khác với những chính sách kinh tế cơ bản khác như chính 
sách tiền tệ, đó là chính sách nhằm ổn định nền kinh tế bằng cách kiểm soát tỉ lệ lãi suất và nguồn cung tiền. Hai công cụ chính 
của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế. Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu 
của chính phủ có thể ảnh hưởng đến các biến số của nền kinh tế như: tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế; kiểu phân bổ nguồn 
lực; phân phối thu nhập, hay nói cách khác chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt động 
kinh tế. 
Trong khi đó, chính sách tiền tệ chủ yếu tập trung vào ổn định tiền tệ (kiểm soát lạm phát); tăng trưởng kinh tế; tạo việc làm và 
cân bằng cán cân thanh toán. Tùy theo từng giai đoạn và diễn biến của kinh tế vĩ mô mà chính sách tiền tệ hướng tới mục tiêu ưu 
tiên nào là chủ yếu, chẳng hạn trong giai đoạn lạm phát cao, tăng với tốc độ vừa phải, chính sách tiền tệ thường tập trung ưu tiên 
vào mục tiêu kiểm soát lạm phát và khi ổn định được lạm phát, mục tiêu của chính sách này lại thường kết hợp với mục tiêu tăng 
trưởng. Các công cụ của chính sách tiền tệ như chính sách lãi suất tái chiết khấu, chính sách dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường 
mở và hạn mức tín dụng có tác động nhanh chóng trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng, từ đó tác động đến lạm phát, và vì 
vậy, chính phủ các nước thường sử dụng tối đa các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát về ngắn hạn; nhưng 
nếu chỉ có chính sách tiền tệ, lạm phát khó có thể được kiểm soát về dài hạn, đặc biệt đối với các nước lạm phát cơ cấu như Việt 
Nam. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách vĩ mô phải kết hợp nhịp nhàng hoạt động hai chính sách này để vừa giải quyết được 
các mục tiêu trước mắt, vừa kiểm soát được lạm phát về lâu dài. Thế nhưng trên thực tế, sự phối hợp hai chính sách không phải 
lúc nào cũng ăn khớp như mong muốn.
2. Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua
Mặc dù bối cảnh kinh tế quốc tế không mấy sáng sủa, nhưng trong năm 2010, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu tăng trưởng 
(6,78%) và là một trong số quốc gia có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong khu vực. Hệ thống ngân hàng - tài chính giữ được ổn 
định, các công cụ điều hành mang tính hành chính trong giai đoạn chống suy giảm kinh tế dần dần được dỡ bỏ, các công cụ thị 
trường đang dần tái sử dụng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hồi phục và phát triển sau tác động của khủng hoảng kinh tế và 
tài chính trên thế giới. Có được kết quả trên, nhờ vào việc chỉ đạo quyết liệt, cùng với phương pháp điều hành chính sách vĩ mô 
nhanh nhạy, linh hoạt và thận trọng của Chính phủ, trong đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa - tài chính đóng vai trò 
quan trọng có quyết định tới ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng. 
Thế nhưng, trong năm 2010, mặc dù đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP, song lạm phát đã vượt mục tiêu gần 2 điểm phần trăm. 
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả không mong muốn này, trong đó sự phối hợp chưa thực sự nhịp nhàng giữa chính sách tài 
20
khóa và chính sách tiền tệ cũng đã ảnh hưởng tới kết quả kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua. Sự phối hợp chưa 
nhịp nhàng giữa hai chính sách vĩ mô quan trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến kiểm soát lạm phát trong ngắn hạn là do:
- Thứ nhất: Chủ trương duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài, đặc biệt ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, tài 
chính thế giới đã đè nặng lên chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở Việt Nam. Với mô hình tăng trưởng chủ yếu nhờ vào 
tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước hiện tại hoạt động kém hiệu quả làm chủ đạo và nhờ vào việc bán tài nguyên, 
gia công trình độ thấp dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp. Điều này được minh chứng qua số đơn vị cần thiết để tạo ra một điểm phần 
trăm tăng trưởng GDP (hệ số ICOR) vào khoảng 6 trong những năm gần đây, dẫn đến quyết định logic về chính sách là để tăng 
trưởng cao cần gia tăng đầu tư. 
- Thứ hai: Kết cục của mô hình tăng trưởng này dẫn đến Chính phủ phải thực thi chính sách tài khóa mở rộng, chấp nhận 
thâm hụt ngân sách (5,8%) và phát hành trái phiếu để bù đắp cho nhu cầu đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Tổng mức đầu tư ban 
đầu của các dự án, công trình thuộc danh mục đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003 - 2010 là 246.447 tỷ 
đồng. Hầu hết các dự án đều có điều chỉnh tổng mức đầu tư so với phê duyệt ban đầu. Có dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư lên 3 
- 4 lần, riêng phần vốn trái phiếu Chính phủ một số dự án điều chỉnh tới trên chục lần, qua tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư 
tổng mức đầu tư điều chỉnh từ các bộ, ngành, địa phương đã lên tới 558.654 tỷ đồng (tăng 226%). Uỷ ban Tài chính - Ngân sách 
cho rằng, tổng mức đầu tư các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn này đã “tăng quá cao so với khả năng cân đối của ngân sách, 
ảnh hưởng đến khả năng vay và trả nợ” . Trong khi cơ chế điều hành, quản lý nguồn vốn chưa hợp lý số lượng dự án hoàn thành 
còn quá ít, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn.
- Thứ ba: Chinh sách tài khóa với chi tiêu công quá mạnh trong khu vực đầu tư, làm tăng tỷ lệ đầu tư/GDP ở mức 44,2% 
năm 2010 - cao nhất châu Á, sau Trung Quốc. Do nền kinh tế kém hiệu quả nên các khoản đầu tư công cũng không mấy hiệu quả 
đã tạo ra sự mất cân đối giữa lượng hàng hóa với số lượng tiền trong nền kinh tế và kết quả tất yếu phải xảy ra là lạm phát. Chi 
tiêu công và nợ công tăng cao trong những năm gần đây đã tạo ra sức ép nặng nề lên giá cả hàng hóa. Điều này cũng giải thích tại 
sao chính sách tiền tệ đã kiểm soát tăng trưởng tín dụng (28%) và gia tăng tổng phương tiện thanh toán (25%) khá tốt năm 2010 
nhưng lạm phát vẫn ở mức 2 chữ số. Đây cũng chính là nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam trong nhiều năm qua.
- Thứ tư: Một minh chứng khác cho việc thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là 
trong nhiều thời điểm, trong khi chính sách tiền tệ đang vận hành theo hướng thắt chặt tiền tệ để ổn định giá cả, Chính phủ lại 
điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng như xăng dầu, giá điện. Sự không nhất quán này đã phần nào làm giảm hiệu lực của chính 
sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua. Ngay trong tháng 12 năm 2010, chính sách tiền tệ đã 
bắt đầu có dấu hiệu thắt chặt thông qua việc tăng lãi suất cơ bản nhưng chính sách tài khóa dù có dấu hiệu thắt chặt hơn nhưng 
nhìn chung, vẫn theo hướng nới lỏng. 
- Thứ năm: Trong khi chính sách tiền tệ đang điều hành theo hướng giảm lãi suất thị trường để tạo điều kiện cho các doanh 
nghiệp vay vốn với chi phí thấp thì để huy động vốn cho gia tăng đầu tư công, Chính phủ phải tăng cường phát hành trái phiếu 
chính phủ với lãi suất ở một số thời điểm lên tới 11 - 12%/năm, cao hơn lãi suất huy động vốn của các tổ chức tín dụng, sau một 
thời gian, mức lãi suất huy động trái phiếu đã giảm xuống 9,6% năm, nhưng vẫn cao hơn so với mức rủi ro của công cụ tài chính 
này. Các ngân hàng thương mại với động cơ tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, họ đã sử dụng vốn huy động được trên thị 
trường mua trái phiếu chính phủ hấp dẫn hơn là cho các doanh nghiệp vay và mức lãi suất này vô hình trung đã đẩy mức lãi suất 
huy động trên thị trường lên cao. Đây là một biểu hiện của sự chưa ăn khớp giữa vận hành của chính sách tài khóa với chính sách 
tiền tệ trong thời gian qua.
- Thứ sáu: Sự thiếu phối hợp, trao đổi thông tin trong điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cũng đã ảnh 
hưởng tới việc điều hành của chính sách sách tiền tệ về ngắn hạn. Điều hành chính sách tiền tệ đòi hỏi có hệ thống thông tin tài 
chính đầy đủ, cập nhật và chính xác, thế nhưng trong một số trường hợp các thông tin, báo cáo về các vấn đề tài chính công, đặc 
biệt chi tiêu và đầu tư công lệch pha về thời gian với yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ. 
3. Một số đề xuất tăng cường sự phối hợp trong thời gian tới
Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là hai bộ phận trọng yếu trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đặc biệt trong kiểm soát 
lạm phát. Hai chính sách này trên thực tế được hoạch định và thực thi khá riêng biệt bởi hai cơ quan khác nhau của Chính phủ, 
nhưng lại cùng một mục tiêu vĩ mô là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, và vì vậy, hoạt động của hai chính sách 
này có mối quan hệ đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau. Để tăng cường hiệu quả của hai chính sách này cần phải có sự kết hợp nhịp 
nhàng và đồng bộ theo hướng sau đây: 
- Thứ nhất: Chính phủ cần đưa ra một kế hoạch tổng thể chính sách về tài chính - tiền tệ năm 2011, trong đó các vấn đề 
về cân đối bội chi ngân sách, cân đối đầu tư công cần được tính toán, nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ tới các chỉ tiêu 
quan trọng của chính sách tiền tệ: tổng phương tiện thanh toán và tăng tưởng tín dụng. Tránh hiện tượng trong khi chính sách 
tiền tệ đang tìm cách thắt chặt để kiểm soát lạm phát thì chính sách tài khóa lại nới lỏng cho đầu tư công như thời gian vừa qua.
- Thứ hai: Việc phát hành trái phiếu chính phủ với khối lượng lớn trong năm qua cho chi tiêu công đã dẫn tới hiện tượng 
khan hiếm vốn cho khu vực sản xuất, các doanh nghiệp vẫn thiếu vốn và lãi suất cho vay vẫn ở mức cao cho dù chính sách tiền tệ 
đã kiểm soát tốt các chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng. Do vậy, để ưu tiên vốn cho khu vực sản xuất 
21
kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, Chính phủ cần nghiên cứu giảm phát hành trái phiếu chính phủ cho đầu tư công trong năm 
2011 và các năm tiếp theo.
- Thứ ba: Lãi suất phát hành trái phiếu cần được nghiên cứu, tính toán với mặt bằng lãi suất huy động chung của hệ 
thống ngân hàng thương mại, hạn chế các ngân hàng thương mại sử dụng vốn huy động để mua trái phiếu chính phủ và cần 
tăng cường phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc xác định lãi suất đảm bảo ổn định lãi suất thị 
trường. 
- Thứ tư: Từng bước giảm bội chi ngân sách theo hướng Chính phủ chỉ đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm 
liên quan đến quốc kế dân sinh, khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng 
thông qua hình thức đối tác công tư (PPP) 
- Thứ năm: Nguyên nhân căn bản của lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua là mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư 
nhưng lại kém hiệu quả và thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, và vì vậy, để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian 
tới, Chính phủ cần kiên định với mục tiêu ưu tiên ổn định vĩ mô thay vì thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP, thậm chí cần đặt mục 
tiêu tăng trưởng thấp hơn (khoảng 6 - 6,5%) để kiểm soát lạm phát ở mức 5 - 6% năm 2011 và duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức 3 - 
4% những năm tiếp theo. Làm được như vậy nền kinh tế sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng vững chắc và lâu dài.
- Thứ sáu: Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ngay từ khâu xây dựng và 
hoạch định chính sách, trước mắt năm 2011, cả hai chính sách này phải nên được thắt chặt để giảm tổng cầu và ngăn chặn lạm 
phát, chính sách tài khóa cần được xây dựng theo hướng giảm dần thâm hụt tài chính tổng thể và thâm hụt ngân sách nên được 
duy trì ở mức 4 - 5%/năm.
Câu 9: Trình bày các quan điểm lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện thông tin bất cân xứng và khuynh hướng tài 
trợ vốn của hệ thống tài chính Việt Nam trong thời gian tới. 
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn 
cổ phần mục tiêu rõ ràng.
Giả thuyết rằng ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin 
không cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu 
lượng tiền mặt tương lai.
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát hành chứng khoán (nguồn tài chính 
bên ngoài). Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giá 
cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban 
quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài). Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn 
này, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếu 
như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao.
Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành tiền cho 
vay. Điều này khiến các nhà quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu.
Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc phân hạng thị trường. Trước 
hết, các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến là vay nợ ngân hàng ( vay nợ phát ra tín hiệu về chất 
lượng kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí vay được tính vào chi phí kinh doanh có sự chia sẻ kinh tế của nhà nước, doanh 
nghiệp kg bị chia sẻ quyền quản lý và dưới áp lực lãi suất doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, đồng thời tránh tâm lý ỷ lại 
của giám đốc), tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay (phát hành trái phiếu, trái phiếu có khả năng chuyển đổi) và cuối cùng là 
phát hành vốn cổ phần (việc phát hành cổ phiếu kg gây áp lực trả cổ tức cho cổ đông, nhưng ảnh hưởng đến đạo đức kinh doanh)
Khuynh hướng tài trợ vốn của hệ thống tài chính VN trong thời gian tới: 
Với việc cải thiện và nâng cao chất lượng của hệ thông ngân hàng và thị trường chứng khoán thì đây là 2 kênh huy động tài chính 
chính của doanh nghiệp
Ngân hàng chiếm ưu thế trong hệ thống tài chính của các nước nói chung và VN nói riêng, việc sử dụng ngân hàng như là kênh 
tài trợ tài chính có những ưu điểm sau:
 Cải thiện tình trạng thông tin bất cân xứng
 Cung cấp các cơ chế giảm thiểu rủi ro
 Cải thiện tình trạng chiếm lĩnh thông tin của DN
 Không chi phối hoạt động kinh doanh của DN
 Khắc phục tình trạng thông tin nội gián
 Khắc phục tình trạng sử dụng thông tin không trả phí
Ở VN trong những năm trở lại đây, TTCK khẳng định được tầm quan trọng trong nền kinh tế và qui mô ngày càng tăng lên so 
với ngân hàng cùng với sự phát triển kinh tế xã hội. Do đó, TTCK là kênh tài trợ tài chính không thể bỏ qua của các DN. Ưu 
điểm của kênh TTCK:
 Kích thích sự đổi mới và tăng trưởng dài hạn
 Cung cấp nhiều công cụ quản lý rủi ro
22
 Không giới hạn qui mô tài trợ vốn
 Liên kết và gia tăng tiềm lực đầu tư
 Cung cấp nguồn vốn dài hạn
 Khắc phục các yếu kém của hệ thông ngân hàng
Câu 10: - Phân tích những lợi ích chi phí khi tham gia khu vực đồng tiền chung.
- Nhưng điều kiện cơ bản khi xây dựng khu vực đồng tiền chung.
- Nhận định về điều kiện xây dựng đồng tiền chung khu vực Asean.
1. Lợi ích – chi phí
• Lợi ích
- Giảm chi phí trong thương mại 
- Xóa bỏ thị trường ngoại tệ với các đồng tiền trong khu vực. Ví dụ: thống kê trong EUROZONE khoảng tiết kiệm này lên đến 
0.25 -0.5% GDP 
- Thúc đẩy TM; gia tăng đầu tư
- Đồng nhất giá cả 
- Một đơn vị tiền tệ chung cho hàng hóa trong khu vực => gia tăng TM trong nội khối
- Tăng sự cạnh tranh
- Xu hướng giảm giá sp -> có lợi cho khách hàng.
- Hạn chế sự bất ổn
- Tối thiểu hóa biến động tỷ giá trong TM giữa các nước thành viên => ổn định hoạt động kinh doanh; dễ dàng trong lập KH 
kinh doanh và tăng đầu tư
- Lợi ích thu được từ việc sử dụng một đồng tiền quốc tế 
- Tăng trưởng kinh tế
• Chi phí
- Dỡ bỏ các ràng buộc thương mại là điều bắt buộc trong nội khối=> nhằm tăng cạnh tranh
- Mất sự độc lập cũng như tự quyết của mỗi nước trong các quyết định liên quan đến chính sách tiền tệ
- Liên minh tiền tệ và cú sốc do sự không cân xứng
- Tác động lên thị trường lao động ?
- Chi phí để các tổ chức và cá nhân thực hiện sự thay đổi, điều chỉnh
- Lạm phát và thất nghiệp 
- Sự khác biệt trong hệ thống tài chính và pháp luật => khó khăn trong quản lý
- Mất doanh thu từ việc in tiền
- Sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng.
- Mất đi ý nghĩa văn hóa (các hình in trên tiền của từng nước)
2. Điều kiện
- Trình độ phát triển kinh tế giữa các nước tương đương, ví dụ: khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người giữa các nước 
thấp. 
- Giá tương đương và đầu ra sản phẩm có khả năng lưu chuyển cao trong nội khối.
- Tự do trong dịch chuyển lao động và tài chính giữa các nước thành viên.
- Chính sách tài khóa/ ngân sách tương ứng giữa các thanh viên trong nội khối
- Năng lực điều hành của Ngân hàng TW tốt, hệ thống ngân hàng tốt.
3. Asean
Hiện nay khu vực Asean gặp một số trở ngại khi muốn xây dựng khu vực đồng tiền chung như sau:
- Sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các thành viên. Ví dụ: Sing – nước phát triển nhất khu vực có thu nhập bình 
quân đầu người cao gấp hơn 200 lần so với Myanmar – nước nghèo nhất khu vực. 
- Mặc dù đã có CEPT nhưng việc lưu chuyển hàng hóa giữa các nước thành viên còn thấp.
- Lao động và tài chính dịch chuyển tương đối dễ dàng nhưng không tự do hoàn toàn.
- Các nước thành viên theo duổi các chính sách tài khóa/ quản lý ngân sách khác nhau, không tương ứng.
=> Từ đó thấy việc xây dựng đồng tiền chung cho KV Asean hiện nay là không khả thi.
Câu 11:- Phân tích lợi ích và chi phí đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Đánh giá khái quát về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta.
- Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1. Phân tích lợi ích và chi phí đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1 Lợi ích 
- Về mặt kinh tế:
23
 Là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế: FDI 
giúp các nước tăng GDP. 
 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. 
Đầu tư nước ngoài được đánh giá là bước đầu đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, 
hiện đại hoá, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng của khu vực 
sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn ở mức cao.
 Thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung có trình độ công nghệ khá tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện 
đại. Các khu công nghiệp và khu chế xuất với yêu cầu thu hút vốn FDI đã được hình thành và phát triển và ngược lại, thông qua 
đầu tư nước ngoài, hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất đã có sự phát triển khá mạnh và vững chắc. Trong các khu công 
nghiệp này, FDI đã giúp Việt Nam hình thành và phát triển những ngành công nghiệp khá hiện đại như khai thác chế biến dầu 
khí, lắp ráp xe hơi- xe máy, nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống hiện hữu như may mặc, chế biến lương thực – thực 
phẩm, đào tạo huấn luyện nhân lực theo các tiêu chuẩn quốc tế… Nhiều sản phẩm của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã 
đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu. Những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân như 
viễn thông, dầu khí, du lịch đang phát triển nhanh chóng nhờ có sự đóng góp quan trọng của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. 
Hơn thế nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất trong nước
 Tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực. 
 Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới
 Tác động lan tỏa của đầu tư nước ngoài đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế: Các cán bộ quản lý và cán bộ 
kỹ thuật trong nước được kích thích nâng cao trình độ khi giao dịch với các đối tác nước ngoài.
 Đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô. 
- Về mặt xã hội:
 Đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực.
 Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. . 
1.2 Chi phí
***Hạn chế
- Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ.
- Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ.
- Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết kịp thời.
- Sự phụ thuộc về kinh tế của các nước nhận đầu tư.
- Rút vốn ồ ạt và bất ngờ có thể gây khủng hoảng.
- Chi phối thị trường, khai thác nguồn tài nguyên và tác động đến môi trường (ô nhiễm).
2. Đánh giá khái quát về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta.
Tính từ 1995 đến 2010, cả nước đã cấp giấy phép đầu tư cho khoảng 11.834 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký là  192,576 triệu USD (Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp phép từ các năm trước), trong đó vốn thực hiện đạt 
trên 72,933.7 triệu USD. 
2.1 Về lĩnh vực
Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng vẫn luôn là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài. Cho tới 
tháng 12/2010, lĩnh vực này đứng ở trí số 1 trong danh mục thu hút vốn FDI. Tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm trong lĩnh vực này là 9,77 tỷ USD, chiếm 58,73% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Lĩnh vực dịch vụ: Song song với việc khuyến khích đầu tư vào công nghiệp-xây dựng, chúng ta cũng đã tạo nhiều điều kiện 
thuận lợi cho khu vực dịch vụ phát triển, tập trung vào các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và xuất khẩu, chủ yếu là dịch 
vụ lưu trú và ăn uống (295 dự án), giao thông vận tải-thông tin truyền thông (636 dự án), kinh doanh bất động sản (xây dựng khu 
đô thị, khu vui chơi giải trí ).
Lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực nông nghiệp trong những năm qua chỉ chiếm khoảng 3,92% số dự án FDI cả nước, quá thấp so với tiềm năng của Việt Nam mặc dù chính phủ đã dành nhiều ưu đãi cho 
lĩnh vực này. Cụ thể trong giai đoạn 1988-2010, số vốn FDI cho nông nghiệp chỉ chiếm 1,60% tổng số vốn FDI. Năm 2010, lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư chỉ có 11 dự án được cấp mới, với vốn đăng ký được cấp mới hơn 10 triệu USD, chiếm 1,14% số dự án 
cấp mới và 0,06% vốn đăng ký cấp mới, trong đó, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía đường, gạo, xay xát bột mì, sắn, rau; tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâm sản, chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc .
2.2 Về vùng lãnh thổ
Qua 22 năm (1988 – 2010) đã có 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia đầu tư vào thị trường Việt Nam với tổng số vốn đăng ký gần 193 tỷ USD, với 12.213 dự án. Trong đó dẫn đầu là các nước Châu Á – Thái Bình Dương chiếm khoảng 67% về vốn đăng ký, kế đến là các nước Châu Âu chiếm khoảng 21%, các nước Châu Mỹ chiếm 11% nhiều nhất là Hoa Kỳ chiếm gần 7%, các nước thuộc Châu Phi chiếm khoảng 1%.
24
Tính theo lũy kế đến 12/2010, Đài Loan vẫn là quốc gia đứng đầu về việc đăng ký vốn vào Việt Nam với 2.146 dự án, đạt 
22.814.404.331 USD, kế đến là Hàn Quốc với 2.650 dư án đạt 22.132.764.175 USD, Singapore, Nhật Bản, đặc biệt trong những năm gần đây số vốn Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam không ngừng tăng lên và Hoa Kỳ đã vươn lên dẫn đầu vào năm 2009. Trong năm 2010, “hiện tượng” Hà Lan trở thành nhà đầu tư đăng ký vốn rất lớn, thế chỗ cho các đối tác truyền thống như Hoa Kỳ, Hàn Quốc… nguyên nhân là do Nhà máy Điện Mông Dương 2 là quá trình đàm phán của chúng ta trong suốt nhiều năm qua và 2010 là năm kết thúc.
2.3 Về địa phương
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – khu vực Đông Nam Bộ: Chiếm tỷ trọng thu hút FDI nhiều nhất là, với ưu thế vượt 
trội về cơ sở hạ tầng, thuận lợi trong giao thông đường thủy, bộ, hàng không, năng động trong tư duy kinh doanh đã thu hút 7360 
dự án với tổng vốn đầu tư đạt 95,51 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn đăng ký. Tp.Hồ Chí Minh với định hướng hình thành trung tâm 
dịch vụ cấp cao theo hướng tập trung vào Tài chính-Ngân hàng và các ngành công nghệ cao (như công viên phần mềm Quang 
Trung) dẫn đầu cả nước với vốn đăng ký 30 tỷ USD chiếm 30% tổng vốn đăng ký của Vùng; thu hút được 3475 dự án đầu tư. 
Tiếp theo thứ tự là Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương (Xem bảng 2.4 Phần Phụ lục). Các tỉnh này đã có sự gia tăng số vốn đăng 
kí nhanh chóng trong những năm qua nhờ vào những cải cách hành chính cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng trong khu vực…
Vùng trọng điểm phía Bắc – khu vực Đồng bằng sông Hồng: Với vị thế là trung tâm thủ đô khu vực này đã thu hút 3108 dự án với vốn đầu tư trên 34,7 tỷ USD, chiếm 18% về tổng vốn đăng ký cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu với 1926 dự án, vốn 
đăng ký đạt 20,25 tỷ USD. Tiếp theo thứ tự là Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc… 
Vùng trọng điểm miền Trung – khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ: Cơ sở hạ tầng, giao thông từng bước được cải thiện cộng với nhiều chính sách ưu đãi đã đưa vùng này trở thành điểm sáng về thu thu hút đầu tư với những dự án  lọc hóa dầu, các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng đạt chuẩn quốc tế… có quy mô lớn, thu hút được 595 dự án với tổng vốn đăng 
ký 40,1 tỷ USD chiếm 21% tổng vốn đăng ký của cả nước. Dẫn đầu khu vực này là Hà Tĩnh thu hút 24 dự án lớn với vốn đăng ký 
khoảng 8 tỷ USD, tiếp theo là Phú Yên, Thanh Hóa, Quảng Nam… 
Vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): Trong số 10 địa phương dẫn đầu về thu hút FDI từ 
trước đến nay thì không có tỉnh miền núi, các tỉnh khu vực Tây Nguyên nào. Thực tế này cho thấy, một số tỉnh miền núi phía bắc, 
Tây Nguyên, ĐBSCL thu hút được rất ít dự án FDI mặc dù Chính phủ đã có chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt cho các tỉnh đó và 
chính quyền địa phương cũng rất quan tâm đến hoạt động xúc tiến đầu tư. 
Nhìn chung vốn FDI có xu hướng ngày càng dịch chuyển vào các vùng trọng điểm phía Nam và miền Trung, giảm dần ở các 
vùng miền Bắc. Cơ cấu FDI theo vùng miền chưa thực hiện được mục tiêu là rút ngắn khoảng cách về trình độ cũng như tốc độ 
phát triển giữa các vùng mà trái lại còn làm giãn xa hơn. Do đó, trong những năm tới, Nhà nước cần phải điều chỉnh cơ cấu đầu  tư theo vùng lãnh thổ, từng bước phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế
3. Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
3.1. Về chính sách, quản lý nhà nước:
- Tiếp tục duy trì được ổn định chính trị như hiện nay là một trong những yếu tố hấp dẫn nhất đối với nhà đầu tư nước ngoài  vào Việt Nam so với các nước trong khu vực.
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đầu tư nước ngoài theo hướng đầy đủ, rõ ràng, thông thoáng, thống 
nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài và Luật doanh nghiệp áp dụng chung cho cả doanh 
nghiệp trong và ngoài nước, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Thủ tục hành chính cần giảm bớt tối đa, tăng cường hỗ trợ  các nhà đầu tư giải quyết các thủ tục.
- Phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài.
- Thực hiện các cam kết quốc tế sau khi gia nhập WTO để tạo ra một sân chơi lành mạnh nhằm thu hút nhiều nguồn vốn đầu  tư nước ngoài vào Việt Nam.
3.2. Về các giải pháp quy hoạch:
- Rà soát, quy hoạch ngành, vùng chiến lược, từng bước mở cửa thị trường hàng hoá - dịch vụ theo lộ trình cam kết quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế. 
- Chính phủ cần xây dựng quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp như xe máy, xi măng, điện, điện tử; các lĩnh vực dịch  vụ – nơi có giá trị gia tăng nhất.
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về chuyển giao công nghệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; quy định cụ thể Danh mục dự án  đặc biệt khuyến khích đầu tư theo Điều 37 của Nghị định 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh  nghiệp
- Hoàn chỉnh quy hoạch ngành y tế cũng như cơ chế quản lý y tế để tháo gỡ những vướng mắc hiện nay trong thu hút nguồn 
FDI vào lĩnh vực khám chữa bệnh, sản xuất và cung ứng thuốc chữa bệnh, vắc – xin, sinh phẩm học, trang thiết bị y tế,…;
- Làm rõ các lĩnh vực không cấp phép đầu tư và đầu tư có điều kiện, trong đó chú trọng lĩnh vực văn hoá thông tin theo hướng minh bạch, cụ thể và phù hợp với các cam kết quốc tế; cho phép ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh tự quyết  định việc mở tài khoản không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng nước ngoài; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nội 
Nội dung chính
    Mới hơn
    Cũ hơn
    Cũ hơn
    Next Post
    Ý kiến bạn đọc:
    Với các bài đăng lại, tác giả sẽ sớm cập nhập nguồn hoặc xóa bỏ nếu nhận được yêu cầu từ chính tác giả!- trân trọng cám ơn!
    Xem nhiều cùng chủ đề: