Hồ sơ Bob Kerrey - Chủ tịch của Đại học Fulbright Việt Nam

Description: Hồ sơ Bob Kerrey - Chủ tịch của Đại học Fulbright Việt Nam

Xin chia sẻ lại các bạn bài viết này. Tại sao Việt Nam không đi xâm lược mà lại để xâm lược? Mà đã ở thế của kẻ yếu thì trong chiến tranh tàn độc khó tránh khỏi. Vậy tại sao cứ thích nhìn quá khứ, hãy nhìn xem những gì người hàng xóm láng giềng tốt bụng nghìn năm qua gây ra cho chúng ta. Hãy nhìn cuộc chiến IS hiện nay. Chiến tranh là đủ mọi đau thương, cho nên có ăn 2 quả bom NGUYÊN TỬ như kiểu Nhật - dân tộc thượng đẳng, thì họ vẫn quay lại bắt tay với Mỹ, nuôi quân Mỹ trên đất Nhật- bởi vì- họ không muốn ăn thêm những đòn trừng phạt kinh tế và hàng chục quả bom khác- Núi cao có núi cao hơn, cho nên dân tộc mà chuyên bị xâm lược như Việt Nam thì cần phải tránh dần những tư tưởng phản động, thù địch để vươn lên trở thành một dân tộc tri thức cao, mạnh trên thế giới, mà cách duy nhất là :Phải chơi được với người giỏi.
Yêu Mỹ và chơi được với Mỹ không phải là nhờ họ giúp mình , bênh mình mà là được học những cái giỏi từ họ để dân tộc mình mạnh hơn, tự cứu và khai sáng tri thức. Cho nên những bác khơi gợi quá khứ xin phép đừng nói nữa để con cháu chúng tôi được học những cái giỏi từ người Mỹ như Nhật đã làm. Chúng tôi đi theo con đường mà người khác đã thành công trong vấn đề giáo dục.
Clark- Một cựu binh Mỹ - quay lại Việt Nam cống hiến
Clark- Một cựu binh Mỹ - quay lại Việt Nam cống hiến

Bob Kerrey (BK, chi tiết ở đây) là người có nhiều duyên nợ với Việt Nam. Duyên nợ ấy (mà có lẽ chủ yếu là phần nợ) bắt đầu với những đau thương, mất mát mà ông và các đồng đội của mình gây ra cho người dân Việt Nam trong cuộc chiến đã kết thúc hơn 30 năm trước, tiêu biểu là vụ thảm sát Thạnh Phong (xem wikipedia ở đây và đặc biệt là các đường link ở phần liên kết ngoài cuối trang đó). Lúc đó, với người dân Việt Nam, ông là kẻ giết người, nhưng với chính phủ Mỹ ông là một anh hùng và được tặng thưởng huân chương. Sau chiến tranh ông tham gia chính trường với cương vị là Thống đốc bang Nebraska (1983 – 1987) và sau đó là Thượng Nghị sỹ Mỹ đại diện cho bang này đến khi kết thúc nhiệm kỳ thứ hai năm 2000.


Duyên nợ với Việt Nam vẫn tiếp tục đeo đẳng BK nhiều năm sau khi ông rời cuộc chiến với việc ngay khi trở thành thượng nghị sỹ năm 1991, ông đã cùng với các đồng nghiệp từng là cựu binh Mỹ tại Việt Nam trong Quốc hội Mỹ như John Kerry, John McCain, v.v… và các bạn bè cựu binh khác như Thomas Valleley v.v… tích cực vận động cho việc dỡ bỏ lệnh cấm vận và thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Một trong những điểm đột phá đầu tiên là lĩnh vực giáo dục với việc BK cùng các cộng sự vận động phân bổ tiền từ quỹ Fulbright Mỹ để thành lập một cơ sở đào tạo cao học ở thành phố Hồ Chí Minh, sau đó nâng cấp chương trình này trong đạo luật bình thường hoá quan hệ với Việt Nam năm 1995 và mở rộng nó vào năm 2000 với dự luật mà BK đồng bảo trợ (nay là chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright – FETP). Trên cơ sở thành công của mô hình FETP và theo đà tiến nhanh của quan hệ song phương Mỹ - Việt, dự án Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) đã được xây dựng và triển khai với sự ủng hộ của lãnh đạo cấp cao hai nước. Với năng lực, kinh nghiệm và những mối quan hệ của mình, BK đã đóng vai trò chủ chốt trong việc vận động Quốc hội Mỹ phê chuẩn vào năm 2015 khoản tài trợ 20 triệu USD ban đầu để xây dựng FUV và dự kiến có thể xin thêm tài trợ vào năm nay (Xem thêm Đại học Fulbright lý giải việc mời Bob Kerrey làm Chủ tịch). Khoản tiền này là “vốn mồi” cần thiết làm cơ sở để khởi động dự án và vận động thêm nhiều chục triệu USD tài trợ nữa từ các nguồn khác, đặc biệt là khu vực tư nhân Mỹ. Việc vận động tài trợ này không hề đơn giản nhưng là một trong những sở trường của BK với kinh nghiệm vực dậy và phát triển New School ở New York và Dự án Minerva School. Chính vì vậy ông được bầu và chấp nhận cương vị Chủ tịch Hội đồng Tín thác FUV, với nhiệm vụ chính là lo tài chính cho dự án hoạt động. (Việc điều hành FUV hoàn toàn do đội ngũ người Việt đảm trách). 

Với tâm thế ấy, cũng như trước đây, ông luôn nhẫn nhịn chịu đựng, không một lời thanh minh, không một lời bào chữa, mà chỉ kiên trì theo đuổi tâm nguyện của mình. Bởi vì ông hiểu rằng mặc dù không ai có thể sửa được quá khứ, nhưng với sự lựa chọn của mình, chúng ta có thể thay đổi tương lai.
Với tâm thế ấy, cũng như trước đây, ông luôn nhẫn nhịn chịu đựng, không một lời thanh minh, không một lời bào chữa, mà chỉ kiên trì theo đuổi tâm nguyện của mình. Bởi vì ông hiểu rằng mặc dù không ai có thể sửa được quá khứ, nhưng với sự lựa chọn của mình, chúng ta có thể thay đổi tương lai.

Trong chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Obama đến Việt Nam tuần trước, lãnh đạo hai nước đều vui mừng công bố những kết quả cụ thể mới trong quan hệ song phương, trong đó có việc cấp giấy phép cho FUV, kết quả của một nỗ lực kéo dài và không mệt mỏi của không chỉ mấy ông cựu chiến binh Mỹ như BK mà còn là của rất nhiều giới ở Việt Nam, trong đó có những thế hệ lãnh đạo cấp cao nhất trước đây và đương nhiệm. Tuy nhiên, khi Tổng thống Obama vừa rời khỏi Việt Nam thì bắt đầu xuất hiện một số bài viết trên báo điện tử và mạng xã hội phê phán quyết định bầu BK làm Chủ tịch FUV (với sự nhầm lẫn nhất định của tác giả những bài này về chức năng, nhiệm vụ cụ thể của cương vị này như đã nói ở trên). Điều thú vị là những người đầu tiên nổ phát súng vào BK lần này lại là những cựu du học sinh Fulbright. Lập luận của họ tập trung vào hai điểm: 1). BK không có khả năng lãnh đạo một trường đại học vì trong năm thứ 8 ông làm hiệu trưởng ở New School, New York, có đến 94% giáo viên của trường bỏ phiếu bất tín nhiệm ông (xem Bob Kerrey's Ivory-Tower War, lưu ý bài dài, quan điểm tương đối khách quan, công bằng, phải đọc hết mới thấy được tất cả sự thật); và 2). BK là tội phạm chiến tranh, không trung thực vì đã cố che dấu tội ác của mình ở vụ thảm sát Thạnh Phong, và vì thế không xứng đáng làm người đứng đầu FUV mà một trong những nguyên tắc đầu tiên là đề cao sự trung thực (xem Bob Kerrey có xứng đáng là người đứng đầu trường đại học Fulbright?) Ngoài ra, nước Mỹ có nhiều người khác xứng đáng hơn có thể đảm đương vị trí đứng đầu FUV, cứ gì phải chọn BK (xem 'Lẽ nào nước Mỹ không còn ai ngoài Bob Kerrey?')
Ở lập luận thứ nhất về năng lực của BK, bản thân bài báo được những người chỉ trích trích dẫn (Bob Kerrey's Ivory-Tower War) cũng cho thấy ông đã xoay chuyển được tình hình tài chính của New School và phát triển nó được như ngày nay. Tỉ lệ phản đối ông cao sau 8 năm lãnh đạo trường này có nguyên nhân từ cả phía những người phản đối, chứ không phải chỉ mỗi BK. Có lẽ vì vậy mà trong những bài chỉ trích BK tiếp theo, không thấy nêu vấn đề năng lực lãnh đạo của ông nữa.
Ở lập luận thứ hai, về ý tội phạm chiến tranh, những người chỉ trích tỏ ra rất hào hứng và sung mãn. Rõ ràng khó có người Việt Nam bình thường nào mà không sôi máu lên khi đọc những dòng miêu tả dù là tiếng Anh hay tiếng Việt về vụ thảm sát ở Thạnh Phong, bất kể vì nguyên nhân gì và do lỗi của bên nào. Trên thực tế, BK đã không nói gì về sự việc này mãi tới khi có những phóng sự điều tra của the New York Times Magazine và chương trình 60 minutes II của CBS vào mùa xuân năm 2001, chỉ vài tháng sau chuyến thăm Việt Nam lịch sử của Tổng thống Clinton (có lẽ BK không có duyên với những chuyến thăm của Tổng thống) mà nổi bật là thông điệp hòa giải, hàn gắn vết thương chiến tranh không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nội bộ Mỹ. Ông thừa nhận tham gia vào vụ thảm sát nhưng phủ nhận sự cố ý và trực tiếp xả đạn vào các nạn nhân. Tính chất tàn bạo của vụ thảm sát khiến ngay bản thân nhiều người Mỹ cũng không chấp nhận bất kỳ lời biện minh nào của BK, bất chấp việc ông có thể đưa ra bằng chứng nào. Mặc dù trong những phát biểu sau này, BK không nói nhiều để biện minh cho hành động của mình và im lặng trước các phán xét đối với ông về vụ thảm sát, nhưng một bộ phận dư luận Mỹ vẫn không buông tha ông. Hễ có dịp là ngọn lửa phẫn nộ lại được thổi bùng lên và BK lại lặng lẽ, đau đớn chịu trận. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng suốt 15 năm qua, bất chấp những cơn đau do ký ức về Việt Nam và vết thương thể chất trên cơ thể ông cùng những đợt bùng phát giận dữ của dư luận gây ra, BK đã không trốn chạy, bỏ cuộc mà vẫn lặng lẽ, kiên nhẫn cùng những người bạn của mình đeo đuổi dự án FUV và những việc khác nhằm đưa hai nước cựu thù đến gần nhau hơn nữa. Nỗi đau và sự nhẫn nại của BK chỉ những người đồng ngũ như John McCain mới thấu hiểu (xem Bob Kerrey, War Hero . Cảnh báo! Bài này viết cho độc giả Mỹ, trong bối cảnh Mỹ, có thể sẽ khiến nhiều người Việt Nam không hiểu rõ bối cảnh Mỹ và còn giữ quan điểm cứng nhắc, thiếu bao dung về chiến tranh nổi giận). 

Về sự trung thực của BK liên quan đến vụ thảm sát Thạnh Phong, thật khó có thể nói ông sợ không dám nói ra hay ông cố tình giấu diếm cho đến khi bị phát hiện. Cũng có thể là cả hai. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh tuyệt vọng như vậy, có thể hiểu được phản xạ sinh tồn tự nhiên của con người. Dù thế nào chăng nữa thì một điều chắc chắn là BK không tự hào gì về giai đoạn im lặng đó, cũng không tìm cách biện minh, mà ngược lại, đã thể hiện rõ ràng sự xấu hổ, sám hối, và thực hiện những hành động cụ thể để chứng minh sự chính trực của mình sau này. Không thấy có báo cáo nào bày tỏ nghi ngờ về lòng trung thực của BK sau sự việc năm 2001.
Về ý nước Mỹ có nhiều người khác xứng đáng hơn BK cho FUV, chính bản thân BK cũng đồng ý ngay với quan điểm này. Ông nói sẵn sàng đứng sang một bên để nhường chỗ cho người xứng đáng hơn. Có lẽ ít người phản đối quan điểm này. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tìm ra người xứng đáng hơn để thay thế BK. Sẽ là vô trách nhiệm nếu chỉ phê phán suông mà không đưa giải pháp. Những người chỉ trích BK cần đề xuất danh sách những người thay thế và thăm dò khả năng họ đồng ý chấp nhận “hot seat” của BK, như thế mới là những ý kiến đóng góp mang tính xây dựng cho FUV. Trong khi chưa tìm được người xứng đáng hơn thay thế BK, hãy để yên cho ông ấy làm cái công việc “thankless” (vác tù và hàng tổng) đó. Dù sao thì việc bầu BK làm chủ tịch Hội đồng tín thác cũng là quyết định nội bộ của FUV, một tổ chức độc lập không phải chỉ với các cá nhân, tổ chức, mà với cả các chính phủ. Các cơ sở giáo dục khác của Việt Nam chắc sẽ chẳng vui vẻ gì khi người ngoài đòi can thiệp vào quyết định nhân sự của họ. 

Một số người lại cho rằng việc cử BK làm Chủ tịch (Hội đồng tín thác) FUV sẽ làm hại quan hệ song phương Mỹ - Việt vốn đang tốt đẹp, vì BK với quá khứ như vậy, sẽ khiến Việt Nam nghi ngờ về sự chân thành của nước Mỹ. Đây có lẽ là chiêu “nâng quan điểm” hơi khiên cưỡng. Mặc dù Quốc hội Mỹ và chính quyền Tổng thống Obama hết sức ủng hộ và tài trợ một món tiền lớn cho FUV, những người thiết kế dự án này đã rất khéo léo để cho sự ủng hộ về chính trị và tài chính đó không trở thành những điều kiện ràng buộc FUV với quyền lực của chính phủ Mỹ. Như đã nói ở trên, FUV hoàn toàn độc lập với các chính phủ, có quyền tự chủ rất cao. Vì vậy, việc BK làm cho FUV không phải là một quyết định của chính phủ Mỹ, lại càng không đại diện tí nào cho chính sách của Mỹ đối với Việt Nam. Một lần nữa, đây là quyết định nội bộ của FUV. 

Cuối cùng, chúng ta không thể phủ nhận một thực tế rằng bất chấp những gì họ đã làm (hay gây ra) ở Việt Nam trong chiến tranh, nhiều cựu binh Mỹ là những người tiên phong trong tiến trình hòa giải, hàn gắn vết thương chiến tranh và bình thường hóa quan hệ Mỹ - Việt sau này. Không phải ngẫu nhiên mà đại sứ Mỹ đầu tiên ở Việt Nam ngay sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao là Pete Peterson, một cựu phi công Mỹ đã ném bom và bị bắn rơi và bắt làm tù binh ở Việt Nam. Việt Nam đã mở lòng và chấp nhận họ, tuy không quên quá khứ, nhưng cũng đã cho thấy lựa chọn rõ ràng của mình là không để bị cầm tù bởi quá khứ (xem Có nên khoét sâu ngăn cách?) Việt Nam đã và vẫn đánh giá rất cao đóng góp của những Pete Peterson, John McCain, John Kerry, Jim Webb, Thomas Valleley v.v… và Bob Kerrey không nên là ngoại lệ.
Nguồn:Vũ Tú Thành Fulbright năm 2003 – 2005.
Mới hơn
Cũ hơn
Cũ hơn
Next Post

Ý kiến bạn đọc:

Với các bài đăng lại, tác giả sẽ sớm cập nhập nguồn hoặc xóa bỏ nếu nhận được yêu cầu từ chính tác giả!- trân trọng cám ơn!

Xem nhiều cùng chủ đề: